Hoài Khanh và bài thơ “Ngồi lại bên cầu” - Lê Hữu


 

Ảnh: Bùi Thuận

 

Nhớ lời một bài hát bao giờ cũng dễ hơn nhớ lời một bài thơ, nhờ lời ca ý nhạc sánh đôi nhau. Giai điệu bài hát khi cất lên chở theo câu hát, vọng vào tai khiến dễ nhớ dễ thuộc. Thơ thì chịu, ngoại trừ những bài thơ được phổ nhạc thành bài nhạc hay. Tôi ít khi nhớ được trọn bài thơ nào là vì vậy, thường thì chỉ nhớ được một đôi câu hay hay trong một bài thơ nào.

 <!>

Vậy mà, có một bài thơ đến nay tôi vẫn thuộc làu làu. Thứ nht, đấy là bài thơ được nhiều người yêu thích đến độ thuộc cả bài thơ. Thứ hai, bài thơ có chút duyên nợ, đến với tôi trong hoàn cảnh khá đặc biệt và ở lại với tôi khá lâu.

Chuyện như thế này, khoảng năm 1980, khi ấy tôi đang nằm bẹp trong trại “tù cải tạo” A 30, Tuy Hòa. Trong phòng giam nhốt chung khoảng 50 con người có một số giáo chức biệt phái, là các thầy giáo cũng nhập ngũ theo lệnh tổng động viên nhưng sau thời gian thụ huấn tại các quân trường được cho về dạy học lại ở trường cũ. Trong số ấy có một anh tên Tâm, nằm gần tôi, nước da đen bóng như người Chàm, là thầy giáo dạy môn Việt văn. Anh chàng vui tính, dễ hòa đồng với mọi người, đặc biệt là rất thích ngâm nga thi phú những khi chỉ có bạn tù với nhau, không ai rình rập. Giọng ngâm ồm ồm, nghe tàm tạm, cũng đỡ buồn và cũng không ai phản đối. Có một bài được anh ngâm đi ngâm lại và tôi nghe tới nghe lui, nghe mãi nghe hoài, nghe riết đến... thuộc lòng. Bài thơ tên “Ngồi lại bên cầu” của Hoài Khanh.

Bài thơ, bị nhốt chung với chúng tôi như những người bạn cùng chung cảnh ngộ, lâu ngày trở nên thân thiết.

Bài thơ lại quen quen, tôi nhớ từng nghe trong một chương trình Thi văn Tao Đàn hay Thi nhạc giao duyên của đài phát thanh Sài Gòn qua một giọng ngâm nào và trong trí nhớ vẫn còn đọng lại hai câu thơ cuối.

Ta ngồi lại bên cầu thương dĩ vãng,
nghe giữa hồn cây cỏ mọc hoang vu

Nay thì người bạn tù này cho tôi gặp lại, nghe lại trọn bài thơ ấy. Hai câu thơ ngày trước nghe đã ngậm ngùi, nay lại thêm chạnh lòng. Tôi chắc, cũng như tôi, những người bạn tù của tôi khi ấy, sau cuộc đổi đời choáng váng sau khi đã trắng tay, đã mất sạch sành sanh mọi thứ, nghe câu thơ ấy không khỏi cám cảnh cho thân phận tù đày của mình mà... tiếc thương dĩ vãng.

Người bạn tù này hẳn cũng thế thôi, hoặc có tâm sự gì nữa chăng thì tôi không rõ.

“Anh không mặc áo lính ngày nào sao lại phải vào tù cải tạo?” tôi hỏi Tâm.

“Chính vì không mặc áo lính mới bị khép tội nặng. Họ gọi những giáo chức biệt phái chúng tôi là CIA.”

“Chà, thế thì căng đấy. Thôi chịu khó ‘ngồi lại bên cầu’ lâu lâu, cho đến khi nào họ hiểu ra ‘biệt phái’ nghĩa là gì.” Tôi nói đùa.

Tuy vậy anh ta cũng chẳng lấy thế làm buồn. Trong lúc tôi ngụp lặn “nín thở qua sông” thì anh cũng dập dềnh “trôi theo dòng đời”, ai sao ta vậy, tới đâu thì tới.

Ấy vậy mà người phải “ngồi lại bên cầu” lại là tôi chứ không phải anh. Anh về giữa năm thì tôi về cuối năm, và bài thơ ấy cũng theo tôi ra khỏi tù.

    


Bìa thi tập Thân phận, tái bản lần thứ 6

 

Về sau này, khi gặp lại bài thơ trong thi tập Thân Phận của Hoài Khanh (Nxb CaDao in lần thứ ba, 1972), tôi lại nhớ đến người bạn tù không biết lưu lạc nơi đâu và cũng phục anh có “bộ nhớ” khá tốt vì anh gần như thuộc trọn bài thơ, chỉ một vài chỗ hơi khác.

Tôi lẩn trốn vì biết mình không thể

Mây của trời rồi gió sẽ mang đi

Câu đúng trong bản in là “... vì thấy mình không thể”.

“Biết” và “thấy”, hai chữ ấy có khác nghĩa nhau một chút trong câu thơ. Cho dù chữ đúng là “thấy”, tôi vẫn chịu chữ “biết” hơn, nghe hay hơn và cũng “thơ” hơn. (Một vài phiên bản bài thơ trên trang mạng ghi là “… biết mình không thể”).

Ở một chỗ khác, anh bạn tù ấy ngâm nga,

Em – thì vẫn nụ cười xanh mắt biếc

Mầu thơ ngây trên suối tóc la đà

“Mầu thơ ngây”, tôi không rõ anh lấy chữ ấy ở đâu. Câu đúng trong bản in là “Mầu cô đơn trên suối tóc la đà”. Anh bạn nhớ lầm, hoặc cố ý đổi thành “thơ ngây” cho phù hợp với “người em gái” có “nụ cười xanh mắt biếc” trong câu thơ trước chăng? Tôi không rõ, có điều tác giả bài thơ lặp lại hai lần chữ “cô đơn” trong hai đoạn thơ liền nhau, ít thấy ở những người làm thơ trừ khi muốn làm nổi bật ý nào đó.

một chỗ khác, anh bạn tù ngâm nga,

Rồi em lại ra đi như đã đến

Dòng sông kia vẫn cứ chảy sa mù

Câu đúng trong bản in là “Dòng sông kia cứ vẫn chảy xa mù”.

“Sa mù” và “xa mù”, hai chữ ấy khác nghĩa nhau. “Xa mù” gợi tả khoảng cách xa xăm, mờ mịt của dòng sông trôi mãi tận nơi đâu, trong lúc “sa mù” vẽ lên hình ảnh dòng sông mờ ảo, lặng lẽ trôi đi trong màn sương dày đặc của ký ức đầy hoài niệm. (Một vài phiên bản bài thơ trên trang mạng ghi là “… vẫn cứ chảy sa mù”).

Câu thơ hiểu cách nào thì cũng là hiểu, miễn thấy thích, thấy hay là được.

Cả bài thơ cũng vậy, hiểu cách nào thì cũng là hiểu, như khi ta nhìn ngắm bức tranh đẹp, thấy đẹp thấy thích thì gọi là đẹp. “Ngồi lại bên cầu” là bài thơ dễ cảm, dễ làm người đọc, người nghe cảm thấy hay mà không phải diễn giải, bình phẩm cái đẹp cái hay như thế nào.

Đôi lúc chỉ yêu một vài câu thơ cũng đủ để yêu một bài thơ và đủ để gọi là bài thơ hay. “Ngồi lại bên cầu” là bài thơ như thế.

Với những ai yêu thơ Hoài Khanh, “Ngồi lại bên cầu” hẳn là bài thơ được nhắc tên nhiều nhất. “Hoài Khanh, Ngồi Lại Bên Cầu”, cũng tựa những “Thâm Tâm, Tống Biệt Hành” hay “Nguyên Sa, Áo Lụa Hà Đông” hay “Tô Thùy Yên, Ta Về”... Các thi sĩ này làm thơ nhiều, trong số ấy có nhiều bài thơ hay, thế nhưng người ta vẫn nhắc tên bài thơ như gắn liền tên người thi sĩ.

Điều lạ, nhiều người vẫn cho rằng sở trường của Hoài Khanh là thơ lục bát hơn là những thể thơ nào khác; thế nhưng, bài thơ được yêu thích nhất ấy lại không phải bài lục bát.

Trong số những người yêu thích bài thơ này có nhà văn Trần Phong Giao, Thư ký tòa soạn tạp chí Văn, Sài Gòn, từng viết bài nhận định về tập thơ Thân phận của “nhà thơ trẻ tuổi Hoài Khanh trên nhật báo Tự Do, Sài Gòn (6/1962). Ông đã đặt tên cho tập truyện ngắn của mình là Ngồi lại bên cầu (1965) và bên dưới cái tựa truyện ngắn cùng tên là hai câu thơ cuối của bài thơ này.

Ta ngồi lại bên cầu thương dĩ vãng,
nghe giữa hồn cây cỏ mọc hoang vu

“Hoang vu”, chữ ấy có hơi sáo nhưng trong câu thơ này thì thật khó tìm chữ nào hay hơn và “tâm trạng” hơn (chữ dùng trong nước).

Tôi nhớ, khi nghe anh bạn tù ngâm nga mãi câu thơ “tâm đắc” ấy tôi đã đùa, đổi thành “Nghe giữa hồn cây cỏ mọc... linh tinh” (“Linh tinh lang tang”, phát âm “ninh tinh, nang tang”, là chữ “mới”, học được ở trong tù). Anh bạn chỉ cười.

Tôi cũng để ý, nhà thơ dùng những chữ hoang vắng, hoang sơ” và “hoang vu trong bài thơ này. Có vẻ những chữ “hoang” ấy theo chân Hoài Khanh suốt những chặng đường thơ. Nhiều nhất vẫn là “hoang vu”, rải đầy trong những bài thơ ông. Một tập truyện ngắn của Hoài Khanh cũng được ông đặt tựa là Trí nhớ hoang vu và khói (1970).

Những “hoang vu”, “hư vô”, “hư ảo”, “phù sinh”, “trầm luân”… ấy không rõ có là những thi ngữ thời thượng, chỉ thấy đầy rẫy trong những trang “Thơ hôm nay”, tên gọi vào thời ấy. Trước đó, Nguyễn Vỹ, nhà thơ và Chủ nhiệm tạp chí Phổ Thông, đặt tựa Hoang vu (1962) cho một thi tập của mình. Hoặc, Nguyễn Xuân Hoàng, nhà văn và Thư ký tòa soạn tạp chí Văn, chọn bút danh “Hoang Vu” cho những bài thơ của mình. Hoặc, Phạm Công Thiện, một “bạn thơ” của tác giả Thân phận, không chỉ “hoang vu” trong những bài lục bát mà còn muốn Đi cho hết một đêm hoang vu trên mặt đất (1988) trong những chương sách về sau nữa. Có vẻ nhìn quanh, đâu cũng chỉ thấy toàn những hoang vu, hoang lạnh như câu hát của Trịnh Công Sơn,

Rồi một hôm, chợt thấy hoang vu quanh mình(Vết lăn trầm)

Hoài Khanh có cách khác diễn đạt khác, ông không nói “hoang vu quanh mình”.

Nghe giữa hồn cây cỏ mọc hoang vu, rồi sao nữa? Dấu chấm hết ở đấy. Dòng sông vẫn chầm chậm trôi đi; nỗi buồn thì đọng lại, vướng vất, không trôi đi được.

Cả bài thơ như được phủ lên màn sương âm u, như toát lên nỗi cô đơn sâu thẳm đến cùng tận.

Có không ít những bài thơ âm u, lạnh lẽo như thế trong Thân phận.  

Linh hồn ta mấy mươi mùa của suối

Lạnh vô cùng không biết tự phương nao

. . .

Rồi thôi hết đất sẽ là vĩnh viễn

Bông hoa kia nở trên xứ điêu tàn

Tay yếu đuối ta sẽ còn nắm lại

Những lời gì xưa đã hết âm vang

(Xin chào Đà Lạt)

Những câu thơ như báo trước một ngày sẽ đến, ngày “đất sẽ là vĩnh viễn” và “những lời gì xưa đã hết âm vang”.

Những câu thơ như vẽ lên một không gian u tịch, vẽ lên cái “hình ảnh bi đát của Đời, của con người, của một kẻ bị đày giữa bãi đất hoang tàn của nghĩa địa trần gian”, nói như nhà thơ Phạm Công Thiện (1)

 


(“Xin chào Đà Lạt” Hoài Khanh, Nguyễn Văn Nho, 7/4/2013)

https://www.youtube.com/watch?v=RH1-JLD9lL0

 

Hoài Khanh, trong video clip ấy là một nhân dáng còm cõi, tóc bạc phơ phơ, nụ cười hiu hắt. Đôi vai co lên, đầu, cổ rũ xuống. Thật hiếm thấy một vẻ buồn nào đến vậy.

Nhân dáng ấy, vẻ buồn ấy không làm tôi chạnh lòng bằng khi đọc bài Trần Yên Hòa kể chuyện tìm thăm Hoài Khanh ở Biên Hòa nhân chuyến về thăm nhà, đúng một tháng trước ngày nhà thơ qua đời, mang đến chút quà và thư thăm hỏi của Thành Tôn, người bạn thiết của nhà thơ.

“Căn phòng rộng nhưng tối mờ mờ. Tôi nhìn vào thấy một chiếc giường rộng, có một người đang nằm trên chiếc nệm mỏng. Người bệnh đắp phủ cái mền lên trùm cả mặt nên tôi chỉ thấy trên giường như có một vật gì đang cọ quậy. Tôi đứng lại gần đầu giường. Người con trai nói ‘Ba tôi đó,’ rồi anh kêu ‘Ba, Ba, có người tới thăm.

Chiếc mền phủ trên người của Hoài Khanh được mở ra với bàn tay run run. Một cái đầu tóc dài và bạc, gương mặt choắt, đôi mắt thì nhắm khít như mở không ra nổi...

Tôi trao quà cho người con trai và đưa tờ giấy của nhà thơ Thành Tôn có viết mấy dòng chữ. Người con đọc cho ông nghe. Tôi thấy mắt ông chớp chớp như khóc. Có giọt nước mắt lăn xuống gò má đã hóp, nhăn nheo.

Nhìn anh nằm đây trong căn phòng này, suốt hơn ba năm như vậy, trông thật não lòng, nhất là với một nhà thơ, với bao suy nghĩ về cuộc đời, về thân phận con người...

Tôi cúi xuống lồng tay vào trong mền, cầm tay anh, một bàn tay khẳng khiu và rất lạnh.”

(“Thăm gặp Hoài Khanh, lần đầu, lần cuối” – 24/3/2016)

Chỉ có thế, một người từng yêu mến ông, từ phương xa tìm đến thăm ông, chỉ để nắm được bàn tay ông, “một bàn tay khẳng khiu và rất lạnh”.

Hoài Khanh, người thi sĩ với nhiều bài thơ được nhiều người yêu mến, nhắc tên. Rồi sao nữa? Rồi chung cuộc là những năm cuối đời, những năm nằm bẹp trên giường bệnh chờ ngày rời bỏ thế gian này trong hiu quạnh.

Tôi nghĩ đến cái tựa của thi tập ấy, nghĩ đến những thân phận bọt bèo, nhỏ nhoi của kiếp người. Tôi nghĩ đến những năm ông nằm đó, trên giường bệnh đó. Ông nghĩ gì, nhớ gì? Liệu ông có còn nhớ về những gì là “mây của trời rồi gió sẽ mang đi”, những gì “lại ra đi như đã đến” trong đời mình như câu thơ trăn trở ấy?

Nhà văn, nhà thơ Trần Yên Hòa thăm gặp ông lần đầu, lần cuối. Tôi chưa gặp ông lần nào, họa chăng chỉ có gặp trong thơ ông. Tôi, và không ít người, cũng đôi ba lần gọi là ngồi lại bên cầu, cũng tiếc thương dĩ vãng, cũng nhìn nước đi đi mãi không về. Nói như cách người ta vẫn nói, nhiều người tìm thấy mình trong thơ ông.  

“Ngồi lại bên cầu”, bài thơ mênh mang như nước sông mênh mang chở theo những hoài niệm đẹp và buồn. (2)

“Ngồi lại bên cầu” không phải là bài thơ để hát, để lấy thơ ghép nhạc. Giọng thơ u uẩn, khắc khoải ấy không phổ vào nhạc được và chỉ làm người nghe quay về với bài thơ.

“Ngồi lại bên cầu” là bài thơ để nghe, nghe từ một giọng đọc, giọng ngâm. Những giọng ngâm nga vời vợi hòa quyện những thanh âm réo rắt của tiếng sáo trúc, tiếng đàn bầu, đàn tranh là thoáng dư âm của một mùa nào đã vắng xa. Một lần được nghe lại là một lần được về thăm lại những bến sông xa, nhìn nước sông trôi êm đềm, nhìn nỗi buồn trôi đi chầm chậm dưới chân cầu sóng vỗ.

Lê Hữu

(Tác giả gởi)

 

(1) Phạm Công Thiện, “Nỗi cô đơn của Hoài Khanh”, lời tựa

   trong Thân phận, thi tập của Hoài Khanh, Nxb CaDao, Sài Gòn, 4/1962

(2) Ngồi lại bên cầu

Người em gái trở về đây một bận
Con đường câm bỗng sáng ánh diệu kỳ
Tôi lẩn trốn vì thấy mình không thể
Mây của trời rồi gió sẽ mang đi

Em – thì vẫn nụ cười xanh mắt biếc

Mầu cô đơn trên suối tóc la đà
Còn gì nữa với mây trời đang trắng
Đã vô tình trôi mãi bến sông xa

Thôi nước mắt đã ghi đời trên đá
Và cô đơn đã ghi dấu trên tay
Chân đã bước trên lối về hoang vắng
Còn chăng em nghĩa sống ngực căng đầy

Quá khứ đó dòng sông em sẽ ngủ
Giấc chiêm bao nguyên vẹn có bao giờ
Ta sẽ gặp trong ý tình vũ bão
Con thuyền hồn trở lại bến hoang sơ

Rồi em lại ra đi như đã đến
Dòng sông kia cứ vẫn chảy xa mù
Ta ngồi lại bên cầu thương dĩ vãng
Nghe giữa hồn cây cỏ mọc hoang vu.

(Thân phận, Ca Dao in lần thứ ba, 1972)    


Comments

Popular posts from this blog

Bài trăm năm - Trần Yên Hòa

Truyện cực ngắn - Mã Lam

Mẹ đi về phía hoàng hôn - Trần Yên Hòa