Viết để làm gì - Tru Sa
Viết văn đã khó, phải đọc rất nhiều, vừa đọc vừa học vừa bắt chước, đọc sách, thấy mình dốt đã đành, đến lúc luyện viết, đụng đâu cũng của người này người kia, cái gì cũng có rồi, lại thấy mình vừa ngu vừa dốt vừa bất tài. Thực ra, làm thơ, hay ngành nghệ thuật nào cũng thế, nhưng không món nào đốt thể lực và thì giờ nhiều như viết văn.
<!>
Lắm người viết văn một đời, có thành tựu nhưng là danh thợ viết; có người phát quang chốc lát, đúng thời điểm rồi tịt ngóm, hết năng lượng, viết ba lăng nhăng thì được chứ đòi hỏi này kia là gãy ngay. Nhà văn ở nước ta ngày một nhiều, nhưng nhà văn thực sự chẳng thấy đâu. Nhà văn thuần túy đã vậy, nói gì đến nhà văn lớn–cấp bậc cao nhất, diện mạo cho một giai đoạn, một thời kỳ, kết nối người này với người kia thành dòng chảy xâu chuỗi những thế hệ trước đây và bây giờ.
Cái khó của nhà văn là sự kỳ công, chật vật trong từng giai đoạn, từ khi tập viết, luyện văn, định hình, đột biến, khai phá cho đến khi thành danh. Thậm chí càng về sau càng khó viết, của nả bao nhiêu tất tay hết, viết gì cũng lặp lại, có khi còn nhảm đi, nghĩ được làm không được, không tới, làm sao để tranh đấu, thắng được chính mình? Thơ cần sự quan sát tỉ mỉ, thu gọn những gì mình thấy, mình cảm thành ngôn chữ tinh lọc. Thế giới của nhà thơ là sự uyển chuyển đầy biến hóa của màu sắc, hình ảnh, âm thanh chỉ với lượng chữ ít nhất có thể. Viết văn cũng cần quan sát, nhưng là khảo sát tổng quan, nhìn một cánh chim phải nhìn cho hết đường bay, giống chim gì, loài, chi nào, chim bay chiều, bay báo bão hay chim lạc đàn. Lên phà sang sông phải nghe ngóng, dò dẫm từng mẫu người, mặt mũi, dáng dấp, là công nhân, phu hồ, sinh viên, trí thức hay trộm cắp; để ý từng cử chỉ, lời nói, tiếng thở, mùi người, từ đó mới nhồi thêm những nét chính, cấu thành tác phẩm. Nếu nhà văn là họa sĩ ký họa, vẽ tiểu cảnh màu nước thì nhà văn là họa sư chơi sơn mài, vẽ tranh khổ lớn, tranh nhiều chi tiết đến chằng chịt, không gì là thừa. Chekhov viết Phòng Số 6 sau hai năm trở về từ Sakhalin, tính cả thời gian ba tháng ở đó là hai năm ba tháng cho một truyện ngắn chưa đến mười trang. Balzac dùng cả cuộc đời để viết Tấn Trò Đời, đến lúc chết vẫn chưa xong. Kafka viết như liều mạng, sách không quá dày nhưng cổ quái không biết đâu mà lần. Ông qua đời ở tuổi 40, cuốn Lâu Đài chưa đi được một nửa. Marcel Proust viết Đi Tìm Thời Gian Đã Mất từ 1908-1922, chia làm 7 tập, từng bị Beckket phê bình. André Gide ân hận vì khi làm ở nhà xuất bản đã thẳng thừng từ chối bản thảo Du côté de chez Swann[1]. đến Ngô Thừa Ân cũng viết Tây Du Ký trong những ngày tháng cuối đời, viết bằng vốn liếng thâu nhặt cả đời, nếu con trai ông không tìm thấy đem công bố thì Tây Du Ký sẽ mất tích cùng bụi tro thời gian. Tôi trích dẫn không vì đó là những nhà văn kiệt xuất của mỗi nước, mỗi thời mà vì sự đánh đổi đến kinh hoàng của nhà văn cho tác phẩm. Ai may mắn thì thấy thành tựu của mình khi còn sống, được người đời ngưỡng mộ, sùng kính, mà chưa chắc đã là may. Lắm khi nhà văn sẽ rơi vào tình trạng thê thảm gấp ngàn lần, phải đối mặt với sự gian dối, điêu ngoa, lọc lừa của đám nịnh thần, sự đố kỵ, thù hằn của lũ bất tài. Không dưng mà Kawabata, Hemingway tự tử sau khi đã có được tột đỉnh vinh quang. Viết, đại thành đã khó, phải sống thế nào khi không còn bậc thang nào để leo không còn đỉnh núi nào để trèo còn khó hơn, sự sống của nhà văn luôn ngắn hơn tác phẩm.
Người đời, mỗi khi nhắc đến nhà văn lại nhét vào đủ thứ mỹ từ sáo sộng, nào là sứ mệnh, lương tâm, trách nhiệm với dân tộc, quốc gia, nào là ông thánh, bà hoàng truyện ngắn, tiểu thuyết, người tranh đấu; ở thời Quốc Xã thì là chống Phát-xít, ở thời Cộng Sản thì chống Cộng, rồi thì chống tham nhũng, viết vì nhân dân… rặt những chức danh rỗng tuếch. Nếu muốn giúp đỡ ai, một người hay nhiều người, thì không ai lại chọn viết văn, cái nghề bần hàn, rẻ mạt, khốn đốn trăm bề nhất trong tất cả loại nghề. Muốn giúp người nghèo kháng cáo thì làm quan toà, luật sư, thiết diện vô tư rõ ngay gian[2]; muốn bảo vệ con người thì làm công an, cảnh sát; muốn tống cổ ngoại bang thì khiển quân ra tiền tuyến như Ngô Quyền, Lê Lợi, Trần Hưng Đạo; muốn đồng bào cơm no áo ấm thì làm chính trị, một quyết sách đúng đắn mang tính cải tổ cứu được toàn dân. Nhà văn chẳng làm được gì, có khi còn làm con người mụ mị bởi những ảo tưởng điên rồ. Kỳ thực, chẳng nhà văn nào viết văn lại tin mình có thể thay đổi thế giới, trừ những chí sĩ dùng chữ nghĩa để cổ vũ, phục dựng lại sĩ khí toàn dân tộc, như Nguyễn Trãi đâm mấy thằng gian bút chẳng tà, Phan Châu Trinh viết mười lời ai điếu, nhà văn, vừa là lũ người quỷ ám, vừa là đám nợ đời, vừa là bọn rỗi hơi mộng mơ tứ tán lại vừa là sự khiết trinh mắc đọa trần gian. Tài sản của nhà văn không gì ngoài chữ, đời sống của nhà văn cũng để nuôi sống cái chữ cái nghĩa của ngòi bút, thế giới của nhà văn vừa là thế giới ngoài kia, nhìn được thấy được vừa không phải, trong đó là cõi nội tâm phức tạp, đa giác hình, lúc lả lướt, mềm mại, lúc xương xẩu đầy đá găm sỏi nhọn, khi cao xanh ngất ngưởng, khi âm u, bí hiểm, nhìn người ra ma nhìn ma ra thánh, xác thánh hồn người, trong cái hồn đó chứa cả thánh cả ma, đấng cứu thế, đại ma đầu… Ngoài đời có sách thánh hiền, kinh phật kinh thánh, người đẹp đẽ kẻ ranh ma thì cõi trong cũng có nhưng trong một hình thái muôn hình vạn trạng. Kinh Kha trong lịch sử khác với Kinh Kha trong Mậu Truyện, Trương Chi của dân gian khác với Trương Chi trong văn Nguyễn Huy Thiệp dầu kết cục đều tan thây trước quyền lực. Văn cảnh, cách khai triển khác nhau nên nhân vật không bị khô cứng ở một cách hiểu mà phái sinh thành trường phái sáng tạo từ điển cố.
Cái gì đã có, từng có, thậm chí chưa có trên đời đều là nguyên liệu, dinh dưỡng, chất bồi bổ làm nên nghệ thuật. Nhà văn không viết vì ai mà viết vì chính mình. Những thứ giới phê bình gọi là nhân văn, nhân bản, mỹ học đều là những gì chảy ra trong tâm hồn nhà văn. Khi nhà văn yêu thương, ta thấy sự thương yêu trong tác phẩm, khi họ buồn, giận, tức, đau đớn, cũng sẽ giãi bày từng đó cảm xúc lên trang sách, và đó là thứ cảm xúc được kết tủa, khuếch tán, cường đại, dồn lên một nhân vật hoặc rải đều cho nhiều nhân vật. Cái hiện hữu trong tác phẩm là cái nhà văn nhìn thấy và mục đích viết ra, trước là để nhìn cho rõ, rồi thì chờ xem có ai nhìn thấy cái mình nhìn, trông ra cái mình không thấy. Trong nghệ thuật luôn có tiền lệ về sự vượt ngưỡng, nằm ngoài tầm kiểm soát của nhà văn, gọi là sáng tạo dựa trên sự sáng tạo. Hành động viết của nhà văn cũng như họa sĩ, nhạc sĩ, điêu khắc gia, đem những gì mình thấy mình nghe mình cảm luyện thành tạo vật (tác phẩm). Đó vừa là sự thỏa mãn nhất thời vừa là sự cất tiếng, để chia sẻ, cộng hưởng với cộng đồng, chẳng ai trong chúng ta có đủ tầm vóc cho sức mệnh như thế. Nhưng trong mọi hoàn cảnh cuộc đời, dù âm thầm tối tăm hay tạm thời nổi tiếng, bị ném vào xiềng xích của chuyên chế hay tự do trong chốc lát để lên tiếng, nhà văn có thể lấy lại tình cảm của một cộng đồng sống động sẽ biện hộ cho anh ta, chỉ với điều kiện duy nhất là bằng nỗ lực tột cùng, anh phải chấp nhận hai nghĩa vụ: phụng sự cho sự thật và phụng sự cho tự do. Bởi vì sứ mệnh của nhà văn là hiệu triệu được càng nhiều người càng tốt nên anh không thể thỏa hiệp với dối trá và ràng buộc nô lệ, những thứ nếu ngự trị ở đâu sẽ kéo theo cô đơn hiu quạnh ở đó. Cho dù chúng ta có những nhược điểm cá nhân như nào chăng nữa, sự cao quý trong nghề văn của chúng ta đều bám chặt vào hai cam kết khó khăn sau để trụ vững: từ chối nói dối về điều ta biết và đấu tranh chống lại áp bức, Albert Camus viết trong bài diễn văn tại Thụy Điển, ngày 10 tháng 12 năm 1957. Qua dòng trích dẫn trên, có thể thấy, mọi thứ Camus nghĩ và làm, đều từ tâm hồn, trái tim ông. Điều ông nhìn thấy, tỏ tưởng, muốn làm và đã làm, ông mong sự muốn, đã của mình chạm tới trái tim người khác. Ý nghĩ có phần tham vọng về sự hiệu triệu con người là từ bản thân Camus. Ông cho điều mình làm là đúng đắn, và khi sự đúng đắn đó gợi lên trách nhiệm, đánh thức lương tri, khơi mở nghệ thuật liền trở thành chân lý, tác phẩm nằm im hóa thành tác phẩm sống, một sự sống muôn thuở trong những cuộc đời thấy được sự thức tỉnh.
Nhà văn, trong mắt người đời là một tồn tại thảm hại. Trong mắt người đời, nhà văn như một thứ trang sức bất khả dụng, vừa kính vừa nể lại vừa khinh. Cái tài của nhà văn chỉ được trọng khi tạo ra thanh danh, được báo chí ca tụng, gặt giải lớn trong nước và quốc tế, được lên truyền hình, có tác phẩm chuyển thể, chứ ít ai chịu tĩnh tại để đọc cho hết tác phẩm. Cái đọc ở đây là sự gạt bỏ những lấp lánh truyền miệng để có sự cảm nhận, nghiền ngẫm chân tướng tác giả trong tác phẩm. Đời sống tinh thần của người Việt hiện nay ngày một sa sút, nhất là khi văn hóa đọc không còn là nhu cầu giải trí số một. Kể từ khi mạng xã hội phát triển, đi đâu cũng thấy cảnh mỗi người một máy điện thoại, ngồi riêng hay ngồi theo nhóm. Bạn bè lâu ngày gặp lại nếu không bàn chuyện ba láp thì mở máy bấm. Trong đó là những tin tức cắt ghép nhố nhăng, chơi game, chụp ảnh chân dung, đồ ăn đồ uống, rồi đăng lên kèm dòng chữ tủn mủn, có người còn hi hí xem ảnh khiêu dâm. Thay vì chăm chú đọc Bắt Trẻ Đồng Xanh, Tuổi Trẻ Băn Khoăn thì họ đọc ngôn tình. Không đọc thì nghe, xem, nhìn những video ngắn đến thảm hại, giá trị nó mang lại cũng từng ấy. Công chúng phát rồ mỗi khi hay tin một ca sĩ, diễn viên, hoa hậu dính scandal, ông này lừa đảo, bà kia vào tù, và thờ ơ trước một tác phẩm lớn được tìm lại. Sự quan tâm văn nghệ thuộc về giới cầm bút và buồn thay, phần lớn vẫn bị lóa mắt bởi ánh hào quang, cứ giải to giải lớn là như đàn thiêu thân, họp bàn, tán dóc, tán nịnh chứ không có bài viết nghiêm túc nào. Mạng xã hội, facebook cung cấp thông tin đa chiều đồng thời chiều hư tư duy người dùng. Vài ngàn cái like, vài triệu người share không nói lên điều gì. Tôi tiếc cho thời xưa cũ, ai cũng thèm chữ, đói sách, học sinh, sinh viên chép thơ Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu lên sổ tay, thường dân hóng từng kỳ báo có mục văn nghệ, vào quán café, hay rảo bước ở ghế đá công viên người ta nhìn vào nhau chuyện trò, mỗi anh mỗi cô một cuốn sách, đắc ý đoạn nào thì ồ lên, chỉ trỏ.
Đã qua rồi cái thời nhà văn là điển hình văn hóa, được dựng tượng, đặt tên đường, xây khu tưởng niệm. Thực ra có hay không tên đường chẳng quan trọng, vấn đề là thời trước nhân dân rất thương rất nể cánh nhà văn, họ có thể không biết người (đấy cũng là điều nhà văn cần, càng ẩn khuất ngoài đời càng đỡ phiền) nhưng tác phẩm thì làu làu, hỏi là biết, kể là líu lo như làm thơ. Lúc hay tin tôi viết văn, người em của bà nội tôi kể vanh vách, từ thơ Nguyễn Bính, Xuân Quỳnh, Nguyễn Tuân, Vũ Bằng đến mấy ông Xô Viết như Gorki, Sholokhov… nhưng đó là ngày trước, người trước, xưa là xưa.
Trong bài Một Thoáng Văn Cao, Phùng Quán kể: Lúc ngồi quán trà đá, Văn Cao ra về, nột ông khách nhìn theo, nói “Nhìn cái nước da trắng bệch của ông ta mà tôi phát sợ. Chắc chẳng sống được bao lâu nữa.” Phùng Quán hỏi người khách có biết ông ấy là ai không, ông khách lắc, Phùng Quán bảo đấy là nhạc sĩ Văn Cao, ông khách ngẩn ra, nghẹn lại, hờ hững buông một câu “Thế thì còn ra thế nào nữa!” Lời nghẹn ngào của người khách tiếc cho một nhân vật lừng lẫy, tiếc cho sự ngang trái của đời nghệ sĩ hay tiếc vì sự vô tâm của chính mình, chẳng biết nữa, lẽ nào thì cũng phũ phàng.
Tôi còn nhớ, trong một chương trình Ai Là Triệu Phú, MC Lại Văn Sâm đưa câu hỏi: trong Tứ trụ của Tự Lực Văn Đoàn: Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Khái Hưng, ai là người không phải anh em ruột với ba người kia? Người chơi là một nữ giảng viên đại học sư phạm Thái Bình, chẳng rõ đùa hay thật mà bảo rằng không biết về Tự Lực Văn Đoàn, võ đoán đây là một gánh cải lương, Nhất Linh là một nghệ sĩ cải lương, rồi bí lù, phải xin trợ giúp. Người ở đầu dây bên kia được giới thiệu là anh Nam, đọc nhiều sách, kiến thức thâm hậu, buông ra hai chữ Hoàng Đạo. Người chơi thua cuộc, khán giả té nhào, báo chí đăng báo động về sự thiếu hụt kiến thức đến trầm trọng, đến tôi còn tối tăm mặt mày. Thành ra, lần gặp chị Aki Tanaka ở Hà Nội, biết chị mê mẩn Tự Lực Văn Đoàn, đặc biệt là Khái Hưng, chị sang Việt Nam gần chục năm, vừa dạy tiếng Nhật vừa học tiếng Việt cốt để nghiên cứu về nhóm Tứ Cường, tôi càng thêm xấu hổ. Aki mà hỏi về bà giảng viên kia tôi chỉ có nước độn thổ.
Lần khác, tôi qua ngõ Phan Huy Chú thắp cho ông Dương Tường nén nhang. Trong lúc ngồi với anh Hải Âu, con trai Dương Tường, tôi hỏi “Hàng xóm gần nhà hoặc người gần đây có biết ông Tường không anh?” Anh Âu kêu không biết, tôi hỏi nhà bán café sát cạnh nhà ông Tường thì cậu bán quán có vẻ ngoài sáng sủa hỏi “Dương Tường là ai? Có nổi tiếng không anh?” Tôi cười gượng, bảo chỉ hỏi chơi vì nhà ông bên kia, sống ở đây cả đời người.
Lần gần nhất là khi tôi chuyển về Thanh Xuân, biết nhà Nguyễn Huy Thiệp ở gần mình, muốn ghé chơi nhưng không biết đường. Tôi dò mãi mới tìm đến 71 Bùi Xương Trạch, hỏi người gần đó thì bảo chả biết nhà văn hay ông Thiệp nào, đành tra trên mạng, lò dò mãi mới đến, ông bác tôi hỏi ở cách nhà Thiệp hai căn. Bụt chùa nhà không thiêng hay là sự thảm hại của nhà văn trong mắt người đời? Một bà chị làm ở nhà xuất bản Phụ Nữ từng nói với tôi rằng: “Bọn trẻ bây giờ toàn đọc sách linh tinh, chẳng biết gì cả.” Một đứa em nói với tôi: “Bây giờ có ai đọc sách nữa đâu, không có thời gian và không thích.” Nghe mà chua xót.
Viết để làm gì? Đây là câu hỏi nhập môn dành cho bất cứ ai và có thể tìm thấy ở bất cứ đâu, từ tài liệu tham khảo, giáo trình giảng dạy văn học đến sách lý luận phê bình. Câu hỏi tưởng dễ mà khó, khó vì nó là con dao hai lưỡi, vừa nắn gân, răn đe về sự cẩn trọng đến nghiệt ngã của nghề văn, vừa là cái bẫy giáo điều nhồi nhét hổ lốn đủ loại nguyên tắc. Ai non gan dễ nhụt chí, ai tưởng thật sẽ lú lẫn giữa sáng tạo và và tuyên truyền. Có người còn chêm vào, như: viết văn làm gì khi đời vẫn vậy, viết văn làm gì khi xã hội ngày một suy đồi, viết mà khổ, mà nghèo, lúc nào cũng trằn trọc đến hao mòn thân xác thì viết làm gì… Không biết bao nhiêu lần tôi đã bị đặt vào câu hỏi này. Như mới đây thôi, khi tôi nói mình không có công việc ổn định, sống bằng lãi suất ngân hàng, những bài nhỏ đăng báo, lúc có lúc không và vẫn miệt mài viết sách thì một tác giả đình đám một thời, hiện vẫn nổi tiếng bảo rằng “Viết để làm gì cơ chứ!” Thật chẳng biết nói sao. Bảo viết vì tiền vì danh thì nhục, cũng không phải lý do khiến tôi phải viết, nói là viết vì nhu cầu của con tim, cấp thiết như hơi thở, quan trọng như sống thì càng ê mặt, có khi còn bị mỉa là ấm đầu, ngáo ngơ. Tôi đành ngồi không một lát rồi ra về, xin phép không gặp lại người đó hay cuộc nào có chủ đề tương tự. Trở lại câu hỏi Viết để làm gì? luôn ẩn tàng hai mệnh đề, 1: mục đích viết, 2: ý nghĩa của viết. Mục đích viết, đương nhiên là vì tác phẩm, người cầm bút lao tâm trên giấy, bào tâm trí muôn vạn đoạn cốt cho ra một tác phẩm đàng hoàng, rồi mới nghĩ đến chuyện xuất bản, công bố. Nhà văn lao đao, khổ sở cũng chỉ mong sách mình được in. Thường thì nhà xuất bản hưởng lợi từ bán sách, họ chi cho tác giả phần nhuận bút bản quyền rất nhỏ. Sách bán càng chạy thì nhà sách càng giàu, sách mang họa tác giả gánh hết. Với nhà văn, in sách là cách khước từ số phận của bản thảo trong rương cũ, trở thành tác phẩm của mọi người, nên, được in thì dù với hình thức nào, in chính thống trong nước, in ở nước ngoài, in không nhuận bút, bỏ tiền túi ra in, miễn có sách trong tay là thỏa nguyện. Có sách in thì mới có cái đem biếu bạn bè, có sách in thì nhà văn mới tìm được chút vỗ về, an ủi rồi quên đi, sửa soạn cho hành trình viết tiếp theo (Nguyễn Xuân Khánh từng mừng đến phát khóc khi cầm trên tay cuốn Chuyện Ngõ Nghèo, tên cũ là Trư Cuồng). Trên đời chẳng nghề nào túng quẫn, rẻ mạt như nghề văn, nói là nghiệp giời đày cũng chẳng sai. Ý nghĩa của viết cũng như ý nghĩa của việc sống, rất mơ hồ. Trên đời, quan niệm sống mỗi người mỗi khác, không ai nhái theo đời ai và việc viết cũng vậy. Trong cuốn Thư Gửi Người Thi Sĩ Trẻ Tuổi, Rainer Maria Rilke viết: Chỉ có một con đường duy nhất là ông hãy đi vào sâu bên trong tâm hồn của ông, tìm hiểu, tìm kiếm nhu cầu duyên do bức bách đã khiến ông sáng tác, đã xui ông viết lách: hãy tìm hiểu xem việc ấy có ăn rễ sâu thẳm trong lòng ông hay không. Ông hãy thử tự nhận với ông rằng nếu người ta cấm ông viết thì ông có phải chết mất đi không? Nhất là: ông hãy tự hỏi vào giây phút thầm lặng nhất trong đêm tối: “Tôi có thực sự phải cần viết không?” Hãy đào xới trong tâm hồn ông để tìm cho ra một câu trả lời thâm thúy nhất. Nếu câu trả lời kia xác nhận sự đòi hỏi trong tâm tư ông, nếu ông có thể đối mặt với câu hỏi nghiêm trọng này như thế bằng một câu trả lời dứt khoát giản dị “Tôi phải viết”, nếu có thể trả lời như thế thì ông hãy xây dựng đời ông theo mối nhu cầu tâm tư ấy. Ngay trong những giây phút lạnh nhạt nhất, hoang trống nhất, đời sống của ông phải trở thành dấu hiệu và chứng tích cho lòng khao khát thôi thúc ấy. Rilke viết cho người làm thơ nhưng hễ liên quan đến viết thì làm thơ, viết văn, soạn kịch cũng vậy thôi, miễn nhu cầu kiếm tiền ghi danh không phải lý do cầm bút thì đó là cách giải nghĩa chính xác nhất cho câu hỏi Viết để làm gì?
Nguyễn Du viết Truyện Kiều cốt để mua vui một vài trống canh, viết để đó. Tố Như lão nhân gia đọc bản gốc của Thanh Tâm Tài Nhân, thấy không đành lòng, ông muốn viết lại, sửa chữa tội lỗi trong sách người bằng sự trắc ẩn của mình nên hậu thế mới có một di sản khổng lồ về tiếng Việt.
Bùi Giáng làm thơ, dịch sách cho thỏa cái máu văn nghệ của một cuồng sĩ lang bạt đó đây. Tâm trí ông bay bổng, phóng túng nên khi viết, dịch cũng mang theo điều đó. Ông chẳng nhận được gì, chỉ ai đọc Bùi Giáng mới hưởng được cái lợi của mưa nguồn[3].
Viết để làm gì? sau cùng chỉ gợi ý về trách nhiệm của tác giả với từng câu từng chữ từng viết ra, còn thì, đó là câu hỏi vô nghĩa đến vô minh, vô minh đến ấu trĩ.
Là tôi, tôi sẽ hỏi “Viết có làm nhẹ nhõm và yêu lại những gì quanh mình không?”
Thế thôi!
Tru Sa
[1] Bên Phía Nhà Swan, phần 1 trong bộ Đi Tìm Thời Gian Đã Mất
[2] Lời trong phim Bao Công 1993.
[3]Tập thơ của Bùi Giáng.
Comments
Post a Comment