NGƯỜI KHÔNG CÓ DẤU CHÂN - Ái Điểu
tranh nguyễn trung
Sanh ra, ông Dư đã mang một điều rất lạ là khi đi, chạy, đứng-bằng đôi chân trần-ông đều không để lại dấu chân.
Không ai chú ý, biết sự dị thường này; kể cả ông. Vì con người thời nay mang giày, dép. Dụng ý ban đầu giày dép là để bảo vệ chân, sau đó vì nghi thức và làm dáng.
Đôi khi có đi chân trần nhưng người ta không bao giờ nhìn xuống hoặc quay đầu nhìn lại coi mình có để lại dấu chân không?
Mà dấu chân khô khan, chai sần chỉ cần một cơn gió đã thổi bay. Dấu chân đẫm ướt mồ hôi, máu bom đạn, cát bụi phong trần cũng lau khô mất dấu tích thôi mà.
Ông Dư có dáng người không cao cũng không thấp. Khuôn mặt không xấu xí nhưng cũng không đẹp. Kiểu mặt mà người tiếp xúc khó nhớ, khó mô tả vì không có điểm gì đặc trưng.
Lúc nhỏ còn đi học, ông Dư học lực trung bình, không giỏi, không dở. Đủ để lên lớp, thi đậu vào một trường trung cấp.
Ông biết đàn, biết hát nhưng không truyền cảm lắm. Như mọi người đàn ông khác, ông có làm thơ. Sau thời học sinh, đi làm việc, ông quên lãng không nhớ đến thơ, nhạc nữa.
Ông không có tình yêu lãng mạn, dữ dội như trong phim.
Thấy ông lớn tuổi mà còn độc thân, mấy bà trong hội phụ nữ huyện gán ghép cho ông một chị quá lứa không chồng.
Trước đó chị này cũng không chú ý đến ông. Sau, tạm chấp nhận vì ông không có tật xấu. Không rượu, không thuốc, không gái gú. Nấu món gì ông cũng ăn, không chê cũng không khen. Thật tình, chị này cũng không thể có chọn lựa khác.
Trong việc làm, ông không về sớm, cũng không đến trễ. Ông làm tạm được chức trách được giao.
Ông về hưu với chức phó phòng cấp huyện. Không có sai phạm cũng không thành tích gì nổi bật.
Từ ngày về hưu, thỉnh thoảng rảnh rỗi ông có ra ngồi uống cà phê sáng ở quán vỉa hè gần nhà. Ông lặng yên, không trò chuyện, bàn luận thời sự với người ngồi cùng bàn. Cũng không nhìn lén phụ nữ trẻ đẹp, gợi cảm.
Mọi người không ai nhớ, biết có ông sống trong cùng khu phố.
Năm đó, ông Dư về thăm quê hương ở miền Trung.
Buổi chiều trời không còn nắng, ông ngồi ở thềm nhà từ đường nhìn mông lung ra sân.
Có đứa trẻ trai khoảng chừng bảy tám tuổi mặc bộ đồ trắng từ ngoài cổng đi vào, khoanh tay cúi đầu chào ông. Nó ôm một bó nhang, xấp giấy vàng bạc, tiền âm phủ và một con diều nhỏ. Chân không mang giày dép.
Nó lễ phép nói: dạ, ông con bảo con dẫn đường cho ông đi thăm mả ông bà cố.
Ông xoa đầu, nựng thằng nhỏ rồi đi theo nó.
Đến nơi, ông Dư thắp nhang, đốt giấy. Gió thổi nhẹ những mảnh tàn tro bay cao trong mùi hương lửa.
Ông vái lạy mà không biết khấn gì. Tần ngần giây lát ông chậm rãi đi về.
Thằng nhỏ lon ton chạy trước. Nó thả diều. Con diều trắng, bay cao trong bầu trời xám.
Ông Dư xúc cảm theo tiếng cười vô tư của thằng bé. Ông nhìn những dấu chân trần nhỏ nhắn in trên con đường phù sa ẩm nước.
Ông chợt nhớ là đã quá lâu ông không “Đầu đội trời, chân đạp đất”. Ông cởi giày ra, tiếp tục đi theo hướng con diều.
Ông Dư thích thú khi dẫm chân trên mặt đường cát ẩm. Ông hít sâu ngọn gió nhẹ buổi chiều.
Trời, đất và ông Dư như hoà chung một thể. Chưa bao giờ ông có được cảm giác khoan khoái này.
Ông Dư nhìn xuống chân mình. Ông giật mình rồi quay lại, nhìn đoạn đường mình đã đi qua.
Lạ thật, không có dấu chân ông trên cát. Dấu chân thằng nhỏ vẫn còn đó.
Ông bước thêm vài bước nữa. Quan sát kỹ, vẫn không có dấu chân ông.
Trời đã tối. Ông Dư không còn thấy được đứa trẻ con.
Ông nhìn lên màn đen của đêm, có hai vật thể trắng tinh khôi chập chờn ẩn hiện. Là thằng nhỏ và con diều trắng hay hai ngôi sao?
Tối hôm đó ông Dư ở một mình tại nhà từ đường.
Ông thắc mắc suy nghĩ về việc không có dấu chân. Chỉ một lúc sau, ông tự trấn an: mình sống đến tuổi này cũng được rồi. Một đời không sướng cũng không khổ. Không có dấu chân cũng đâu có ảnh hưởng gì.
Tánh ông Dư có điểm hay là nhanh chóng cho qua những điều khó nghĩ.
Đêm đó ông Dư cũng ngủ ngon.
Sáng hôm sau, nhiều người đến để tiễn ông đi về.
Ông quyến luyến, nói lời cảm ơn rồi nhìn quanh tìm kiếm.
Ông hỏi người anh họ: dạ, hôm qua có cháu trai cỡ bảy, tám tuổi dẫn đường cho em ra thăm mả ông bà. Thằng nhỏ dễ thương lắm, nó đâu rồi.
Người anh họ lộ vẻ ngạc nhiên nói: dòng họ mình và cả xóm này đâu có trẻ nhỏ tuổi đó. Những người tuổi trẻ còn sức khoẻ không ở quê nữa. Họ đi kiếm sống ở thành phố, vào Sài Gòn, qua Mỹ, Úc, Thái, Cam…hết rồi.
Lũ nó không chịu kiếm vợ, có chồng. Đứa nào có gia đình lại không chịu đẻ. Nếu có con, nẫu cũng dắt díu nhau đi.
Xứ này chỉ còn người già, người bịnh tật thôi em. Không có đứa trẻ nào đâu.
Ông Dư bàng hoàng giây lát rồi từ giã mọi người.
Ba tháng sau khi về thăm quê hương ông Dư mất.
Đêm đó, ông ngủ say rồi lặng lẽ đi luôn.
Đám tang ông không sơ sài cũng không long trọng. Không nhiều người đến viếng vì về hưu lâu rồi mà xóm làng ít người biết ông.
Người dự tang lễ không nhắc nhớ đến ông, do không có kỷ niệm gì với ông.
Ông ở hội người cao tuổi đọc điếu văn có đoạn ca ngợi ông Dư có nhiều công lao to lớn khi còn công tác. Là ngọn cờ của người cao tuổi hưu trí. Thế hệ sau nên theo dấu chân ông mà đi…
Bà trong hội phụ nữ thầm nghĩ: lão này lấy ý trong điếu văn cho lãnh tụ nào đó chớ lão Dư đâu có như vậy. Chừng vài ngày sau chắc không ai nhớ đến ông đâu.
Lời ngoài truyện:
Các bạn đọc quý mến của tôi có khi nào xem thử mình có dấu chân hay không?
***
SẤM KÝ
“… tháng Bảy năm Ất Tỵ có thiên hôn, địa ám. Mưa to gió lớn, sấm sét kinh hoàng bảy ngày, bảy đêm. Ngày mất mặt trời, đêm vắng mặt trăng. Gà không gáy, chó không sủa.
Lũ ngạ quỷ, đám cô hồn ngự trị khắp dương gian, hãm hại người lương thiện.
Kẻ ác nhơn, người hiền hậu tựa vàng thau lẫn lộn khó phân biệt được.
Người đức hạnh biến đổi thành kẻ sa đoạ như bị ma da bắt.
…..
Ai nhận được sấm ký này nhớ sao chép ra nhiều bản, lan truyền cho bá tánh biết để làm điều lành, lánh việc dữ, hòng tai qua nạn khỏi.
Bà Ba Hồng bán thịt heo ở chợ sao chép một trăm bản được trúng số độc đắc… Ông Lê Tuấn chủ tiệm cầm đồ vứt bỏ vào chỗ dơ bị té gãy chân…”
1. Con Liễu đọc mà bỏ bớt nhiều đoạn cho bà Ngọc nghe lời sấm ký chép trên giấy vở học trò.
Bà Ngọc nói: mắt mũi cô không thấy được. Con nhớ cà-phê cô ít sữa thôi nghen.
Ông Chiến nói: thời này đâu có rảnh chép tay, phô-tô cho nhanh. Cái vụ sấm ký này xưa rồi, bậy bạ, ai mà tin.
Bà Huệ nói: có kiêng có lành. Xưa rồi mà nghiệm ra y như thời nay.
Tiếng nói của họ chập chờn trong mưa gió và âm điệu Bô-Lê-Rô rầu rĩ.
Mưa lớn từ ba giờ khuya. Sấm chớp vang rền, dữ dội hơn phim chiến tranh.
Đến bảy giờ sáng mưa giảm dần mà trời còn u tối.
Bất chấp nắng mưa, bàn cà-phê của nhóm lớn tuổi, bạn từ thời trung học, vẫn có người ngồi. Đàn bà nhiều hơn đàn ông.
Lâu lâu lại vắng một vài người. Bịnh nặng, theo con đi xa hay đã chết. Dù gì họ cũng trên bảy mươi rồi.
Bà Huệ nói: mưa lớn quá mà Huệ cũng đi. Ngủ không được, dậy từ ba giờ khuya, ngồi chờ sáng để đến đây.
Ông Chiến nói: bữa nào không đi thấy khó chịu. Y như là ghiền. Mà không phải ghiền cà-phê.
Bà Bảy nói: ghiền gì nói rõ ra cha nội.
Ông Chiến nhe răng cười, cố ý khoe hàm răng sứ trắng toát mới trồng.
Ông Việt Kiều San đến ngồi gần bà Ngọc. Hai người có có chút tình như mây khói thuở học trò, hơn bốn mươi năm mới gặp lại.
Ông hỏi nhỏ: sao, tình hình gia đình bà yên chưa? Tui ở xa mà có nghe kể.
Bà Ngọc yên lặng, nước mắt bà chớm chảy ra.
Bà Huệ trả lời thay bạn: hai thằng con trai của bả ghiền ma tuý, đi cai nhiều lần không bỏ. Ông chồng lại đột quỵ, nằm liệt hơn một năm rồi.
Thời thế gì lạ, như có ma quỷ. Đang làm ăn ngon lành tự nhiên sa vào cá độ, ma tuý. Cái phố chợ này mười đứa trai tráng cũng dính hết bảy.
Bà Bảy tiếp lời: Cha mẹ phải bán nhà, mắc nợ. Mà đâu phải trả một lần là xong, ma tuý, cá độ như ma ám khó mà dứt bỏ, nợ đời cứ kéo dài đến khi tán gia, bại sản.
Bà Huệ nói: con Ngọc chịu đựng giỏi thiệt đó ông San. Sáng nào nó cũng cà-phê với bè bạn. Mỗi tuần ba đêm đi hát-cho-nhau-nghe, giao lưu khiêu vũ nữa đó. Ai không biết, tưởng nó đang sung sướng.
Bà Ngọc nói: cũng phải có lúc lãng quên để sống. Ai bày gì cũng làm mà hết cách rồi. Bây giờ chỉ còn biết cầu trời cho hai đứa con thoát khỏi nghiệp chướng.
Bà Huệ nói: ở quê mình, nhìn bề ngoài khó biết ai mắc nợ. Mấy thứ ăn chơi văn nghệ giải sầu ở xứ này rẻ thôi ông San. Cà-phê mười lăm ngàn. Năm mươi ngàn có chỗ hát, nhảy, bao luôn nước uống.
Bà Bảy hỏi: bên Mỹ có sướng vậy không?
Ông San nói: có cái sướng, có cái khổ tuỳ hoàn cảnh riêng.
Chờ cho mọi người ngó chỗ khác, ông San xếp nhỏ tờ một trăm đô, lén nhét vào tay bà Ngọc, nói: cầm chút đỉnh này cho tui vui.
Bà Ngọc xúc động: thôi ông, vợ chồng tui có lương hưu giáo viên cũng đắp đổi được qua ngày.
Ông Chiến nhìn thấy, nói: bạn bè cho cứ nhận. Đời vô thường buông bỏ hết đi, an nhiên mà sống. Bà Ngọc thấy tui không? Chí trai đã gãy gánh, vẫn ngẩng cao đầu cười ngạo nghễ.
Bà Bảy thọc léc: ngẩng cao đầu được không? Nổ quá cha nội.
Cả bàn nghe câu tục, cùng cười như còn tuổi học trò.
Bà Ngọc cũng cười.
Con Liễu đem ly líp-tông cho ông Chiến. Ông lén khèo nhẹ vào tay nó, nói: cưng lấy cho hộp khăn giấy.
Con Liễu nói: dạ. Mà trong đầu nó nghĩ: rồi, có chuyện rồi.
Đúng như nó đoán. Khi về đến chỗ pha chế, nó nhận tin nhắn của ông Chiến: bốn giờ chiều nay đến Hoa Lan nghen cưng.
Nó trả lời: ba giờ ba mươi nghen. E mắc đi làm. A đến đó rồi nhắn cho e số phòng. E đến liền.
Ông Chiến bấm nhanh: ok.
2. Trưa nay con Liễu không ngủ. Nó ráng chép thêm nhiều tờ sấm ký. Cầu trời phù hộ cho chồng nó sống sót trở về hoặc cho nó trúng số độc đắc.
Nó có một đứa con hai tuổi, ở với nhà chồng. Chồng đi biển, nghề rập ghẹ. Đi xa lắm, tận Mã Lai. Thường lệ sáu tháng mới về nhà. Nhưng gần hai năm rồi vẫn chưa về. Bị bắt cóc bán cho ghe nước ngoài hay đã chết? Chưa ai xác định được.
Sáng, con Liễu chạy bàn cho quán cà-phê. Chiều tối làm cho quán nhậu. Vậy mà không đủ nuôi con và ba má chồng già, bịnh.
Ma đưa lối, quỷ dẫn đường, nó lén bán thân để kiếm thêm. Nó lựa mấy ông không biết gốc tích của nó, đã có vợ, có sĩ diện làm khách hàng. Họ giữ bí mật của họ và nó. Ít người thôi, vài ba ngày nó nhảy dù một chuyến.
Nhắm mắt đưa chân mà sống chớ biết làm gì đây? Con Liễu thở dài rồi bồng thằng con đang ngủ qua phòng má chồng, nói: bữa nay con đi làm sớm một chút.
Má chồng nó nhìn bằng ánh mắt hoài nghi. Thâm tâm bà thấy vừa lo vừa tội nghiệp cho đứa con dâu. Dù gì nó cũng còn trẻ, chồng coi như mất tích mà vẫn bương chải nuôi con và nuôi luôn ba má chồng.
Trong khi chờ tin nhắn của ông Chiến, con Liễu ráng viết thêm mấy dòng sấm ký “… Lũ ngạ quỷ, đám cô hồn ngự trị khắp dương gian, hãm hại người lương thiện…”
3. Cũng nhanh thôi, hơn ba mươi phút thì xong việc. Ông Chiến vội vã mặc đồ, nói: anh đi trước, cưng chờ anh đi khỏi rồi mới đi nghen.
Con Liễu nói: dạ.
Ông khách nào cũng như nhau, hết cơn ham thích đều muốn đi nhanh để khỏi bị thấy mình ăn chơi.
Con Liễu còn trần truồng thì có tiếng báo tin nhắn.
Tin nhắn của anh Chinh, con ông Chiến: a nhớ e quá, năm giờ mình gặp nhau nghen e.
Con Liễu bấm máy: dạ, gần năm giờ nghen. A đến Hoa Lan. Số P 205. E đặt trước chờ a.
Nó thầm nghĩ: cha nào con nấy. Thiên hạ đồn anh Chinh này cá độ, xì ke, gái gú đều chơi tuốt. Ông Chiến đã bán căn nhà mặt phố cứu nợ cho con.
Con Liễu vào phòng tắm xả nước cho trôi hết mùi người nhơ nhớp cơ thể. Lúc mới vào nghề nó tắm thiệt lâu mà vẫn còn muốn ói vì ám ảnh cái mùi của khách, dù các ông thường xịt nước hoa cẩn thận khi đi ăn chơi.
Bây giờ nó cũng quen dần.
Tắm xong, con Liễu không mặc áo quần. Như vậy cho đỡ mất thời gian, vì nó còn suất làm chiều ở quán nhậu.
Anh Chinh chưa đến. Trong khi chờ đợi, con Liễu lấy sấm ký ra viết tiếp:
“…Kẻ ác nhơn, người hiền hậu như vàng thau lẫn lộn khó phân biệt được.
Người đức hạnh biến đổi thành kẻ sa đoạ như bị ma da bắt…”
Con Liễu viết chậm, nắn nót cho dễ đọc.
Đang viết, con Liễu chợt nhớ đến thời thiếu nữ, còn đi học. Người ta nói nó dễ thương, học giỏi. Thời ấy đã xa lắc, xa lơ nên lâu nay nó quên.
Bây giờ nhờ chép sấm ký nó nhớ lại.
Ái Điểu
Comments
Post a Comment