Trong Ngày Hiền Mẫu, Viết Về Mẹ & Các Chị - Vương Trùng Dương
Viết cho các cháu nội, ngoại.
Trong những thập niên qua, tôi đã viết về mẹ nơi xứ người vào dịp Mother’s Day, qua thơ, nhạc và sau nầy viết về các chị khi vĩnh biệt. Cũng nhờ Facebook, nhịp cầu xuyên Thái Bình Dương để chia sẻ cho nhau. Ở Mỹ, mỗi năm chỉ có một ngày Mother’s Day, nhưng với truyền thống dân tộc Việt Nam thì Ngày Hiền Mẫu có lẽ cả năm.
<!>
Từ nghìn xưa cho tới nay, từ Đông sang Tây… hình bóng người mẹ cao quý, thiêng liêng, sự hy sinh vô bờ bến trong tình mẫu tử, với trái tim đầy nhân ái, cao cả đã in sâu trong lòng người con từ lúc sinh ra cho đến khi lìa đời. Hình bóng đó tôi đã viết, thể hiện qua thơ, văn, nhạc và trong nhiều lãnh vực khác… Trong thế gian, không thể nào liệt kê hết trong bao nhiêu tác phẩm xưa nay của nhân loại.
Riêng bản thân trong đại gia đình, từ thầy mẹ, các con, cháu nội, cháu ngoại, chắt (thế hệ thứ tư), chít (thế hệ thứ năm)… Coi như “ngũ đại đồng đường”, khi chị cả qua đời đã có cháu gọi bà cố. Nếu tính vào ngày sinh, mẹ tôi năm nay đã 126 tuổi. Trong số 7 anh chị em, nay chỉ còn người chị thứ Tư đã 96 tuổi ở Hội An và tôi là con út 82 tuổi ở Mỹ.
Mùa Hè năm 1990, khi gia đình tôi ở Sài Gòn đợi ngày phỏng vấn H.O 4, mẹ tôi qua đời, anh chị em bàn với nhau không báo tin cho tôi biết… Khi về Đà Lạt, đánh tin mừng cho thân nhân, rồi nhận được tin về quê. Khi về đến nơi thì than ôi! Thay vì nụ cười với nhau lại chan hòa nước mắt. Tôi làm lễ phục tang rồi khi ra đi khỏi nước vào cuối tháng 8 năm 1990, vợ và các con đều đeo băng tang đen hình bình hành nhỏ trên ngực. Ở Mỹ, ngoài trang thờ Phật Bà, thầy mẹ ở trong nhà, trong garage, trước bàn làm việc, có trang thờ thầy mẹ nên hình ảnh song thân lúc nào cũng hiện diện trong tôi.
Trong gia đình, các anh chị em chỉ gọi theo thứ tự. Tháng 11 năm 2015, sau nhiều lần do dự, tôi quyết định về Việt Nam, ra Hội An, Đà Nẵng, lên Pleiku thăm hai chị. Nào ngờ, sau lần hội ngộ đó, anh chị tôi lần lượt vĩnh biệt cõi trần! Nếu không có chuyến đi đó, tôi sẽ ân hận suốt đời.
Anh năm sinh năm Giáp Tuất (1934) mất vào Hè năm 2016 tại cố hương Quảng Nam. Hưởng đại thọ 83 tuổi. Mộ chôn tại Phước Ấm, Thăng Bình, Quảng Nam cùng với mộ song thân, anh ba và các cháu… Không biết linh tính thế nào, cuối năm 1962, trên đường đi chạp mả, khi thầy tôi đi ngang đổng cát thoai thoải, trắng phau, thầy chỉ chỗ và nói với anh tôi, khi thầy mất thì chôn ngay nơi nầy. Lúc đó, đổng cát chưa có mồ mả gì cả nên chỉ xây ngôi mộ duy nhất nơi đó… Gần ba thập niên sau, khi mẹ tôi mất, chôn cạnh thầy, nhân tiện anh chị và các cháu xây bức tường bao quanh cũng khá rộng. Rồi nơi đó được chôn cất những người thân trong gia đình.
Bia và mộ bằng đá ở Non Nước. Theo lời mẹ, anh ba mất sớm vì bị sốt ác tính, khi mang thai người chị thứ tư, mẹ đỏ cả hai mắt, đêm nằm mơ, con báo mộng cho biết hòm bị rễ cây gió xuyên vào mắt. Thầy tôi ra mộ không thấy cây gió vì lún trong cát, khi khơi đất thấy rễ cây gió xuyên vào hòm. Sau đó mẹ hết bệnh. Đây là vấn đề tâm linh khó tin nhưng sự thật.
Hơn tám thập niên, mộ anh ba được di dời, an táng cạnh mộ song thân. Nay thì đổng cát đó không còn chỗ chôn. Theo truyền thống của tiền nhân “sống có nhà, chết có mồ” vì vậy các anh chị đã chuẩn bị trước.
Chị hai sinh năm Bính Dần (1926), mất năm 2017 tại Pleiku. Hưởng đại thọ 92 tuổi.
Chị sáu sinh năm Bính Tý (1936) mất tháng 1/2023 tại Pleiku. Hưởng đại thọ 87 tuổi.
Khi chị hai qua đời, các cháu đã mua mảnh đất ở nghĩa trang Pleiku để xây mộ. Và bên cạnh có mảnh đất của chị sáu để sau đó, hai chị em được yên giấc nghìn thu bên nhau.
Chị bảy (người chị kế), sinh năm Canh Thìn (1940), mất năm 2018 tại Đà Nẵng. Hưởng thọ 79 tuổi. Mộ chôn tại nghĩa trang Hội An.
Nguời chị dâu duy nhất, vợ người anh thứ năm, cùng tuổi với chồng. Từ khi chị về làm dâu năm 1957, vì tôi con út, thứ tám nên gọi chị là chị chín, chị là người sống gần gũi với mẹ tôi hơn 3 thập niên, chăm sóc tận tình. Thỉnh thoảng mẹ tôi đến ở nhà con gái ở Hội An, Pleiku, Đà Nẵng mới rời xa chị. Chị mãn phần tháng 8 năm 2023. Hưởng đại thọ 90 tuổi. Mộ chị cũng ở chung với chồng và thầy mẹ… Nay thì khu mộ nầy không còn chỗ trống.
Tuy trải qua thời chiến tranh và thời gian sống trong hoàn cảnh nghiệt ngã nhưng may mắn được hưởng thọ. Sau nầy các cháu được “hưởng phước lành của ông bà” theo lời anh chị dạy dỗ nên được tiến thân, thành công việc học hành và trong những công việc.
Hè năm 1963, thầy tôi bị căng thẳng tinh thần trong vụ Phật Giáo miền Trung tranh đấu, là Khuôn Hội Trưởng Khuôn Hội Phật Giáo Phước Ấm (Thầy tôi cùng các đạo hữu đứng ra xây ngôi chùa Phước Ấm vào khoảng cuối năm 1955), thầy tôi lo lắng, mất ngủ, thường đau đầu nên uống nhiều thuốc Tây (không cho vợ con biết)… đến khi lâm trọng bệnh, chở ra bệnh viện Đà Nẵng thì không cứu kịp.
Hằng năm vào tháng 5 âm lịch, con cháu các nơi về quê cúng giỗ ông bà và trong dịp Tết tụ tập nhà từ đường nơi nầy. Vào dịp Tết cũng là dịp đoàn tụ nơi căn nhà “từ đường” nơi cố hương. Căn nhà nầy, con trai của anh năm không ở, cuối tuần mới ghé lại nhang khói. Người dân địa phương trải qua bao đời quen biết, bản chất rất tốt, lương thiện nên không có trộm cắp.
Quê nội tôi ở ở dọc ven bờ tả, hửu sông Thu Bồn, từ cầu Cao Lâu trở xuống thuộc quận Duy Xuyên và Điện Bàn. Thầy tôi là nhà Nho, rời quê vào Chợ Được và lập gia đình ở đó rồi “xin chọn nơi nầy làm quê hương”. Nhà thờ tộc Trần ở quận Điện Bàn, gồm 5 phái (thầy tôi là phái nhất), Thanh Chiêm cách phía Tây Hội An khoảng 6km, người Tộc Trưởng nay cũng chín mươi, gọi tôi bằng chú.
Thầy tôi có trí nhớ rất tốt, giỏi phong thủy, thầy kể nguồn gốc họ Trần từ thời Nguyễn Hoàng lập phủ Điện Bàn, dinh trấn Thanh Chiêm (xã Điện Phương, Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam). Nếu thầy ghi lại chữ Nho thì được lưu lại trong gia phả qua mấy thế kỷ.
Di sản tinh thần quý giá nhất là tình thương, lòng nhân ái từ thầy mẹ làm tấm gương sáng cho các thế hệ con cháu noi theo trong đại gia đình…
Hình ảnh người mẹ Việt Nam thiêng liêng, cao quý không ai có thể nói hết. Được hấp thụ tấm lòng cao quý và sự hy sinh của mẹ, các chị tôi noi theo, trở thành tấm gương với con, cháu qua các thế hệ.
Và. với những ai không còn mẹ, mượn 4 câu thơ của người bạn Trạch Gầm, khi mẹ anh qua đời:
“Bây giờ trong cõi hư vô ấy
Mẹ thảnh thơi rồi có phải không?
Giọt sầu mất nước giờ hóa đá
Mây nước quê hương cung lạc dòng!”
Mẹ không còn nhưng trái tim, hơi thở, tình yêu thương vô bờ bến của mẹ mãi mãi trong con.
Little Saigon, Ngày Hiền Mẫu 2026
Vương Trùng Dương
(Tác giả gởi)
Comments
Post a Comment