Những ngôi nhà của một đời người - Trần Mộng Tú
tranh nguyễn trung
Có những lúc tôi hay lơ mơ nghĩ tới một điều không rõ rệt, một điều đưa mình tới một không gian ảo hay một thời gian đã mất hút. Khi nghĩ lơ mơ như thế, tôi không ý thức được rõ rệt mình vui hay buồn, hình như có một lằn ranh rất mơ hồ như sợi tơ nhện, nó chùng xuống cong theo võng gió vào lúc buồn buồn, rồi lại bật lên nằm ngang một đường thẳng tắp, khi thấy hân hoan.
<!>
Lạ lắm ! Nó cho một vị
ngọt đắng trong miệng như khi tôi uống thuốc bắc.“Tiền cam, hậu khổ, hậu
cam cam” Tôi nhớ lại câu nói đó ngày trước của ba tôi khi ông đưa cho
tôi chén thuốc bắc, vừa dỗ tôi uống vừa cắt nghĩa: Bắt đầu là ngòn ngọt,
kế tiếp là đăng đắng, cuối cùng là ngọt ngào. Quả thật, sau nhiều lần
uống thuốc bắc tôi đã quen với ngọt đắng của thuốc, đến không còn cần
ngụm nước phải uống vội vàng ngay sau ngụm thuốc nữa. Nếu thật sự lần
nào lơ mơ suy nghĩ cũng được như thế thì quả là hạnh phúc lắm rồi, không
dám ao ước gì thêm.
Cuối năm là lúc tôi hay lơ mơ nhất, Giáng
Sinh qua, Tết dương lịch hết tôi đang lo dọn dẹp nhà cửa, mua sắm cho
những ngày Tết âm lịch sắp tới, tôi vừa làm việc, vừa để hồn lơ mơ vào
một điều gì đó không rõ rệt, người Mỹ gọi những người như tôi là “day
dreamer”.
Dọn nhà, lau bụi bàn thờ, mang ảnh cha mẹ
bày ra, lo hoa, lo nến đầy đủ, bất giác tôi nhớ đến chữ “Nhà”, tự hỏi:
Không biết một đời người, ta đi qua bao nhiêu thành phố, ta sống trong
bao nhiêu ngôi nhà nhỉ?
Người Mỹ có hai chữ nói về “Nhà” hay lắm.
House (căn nhà) thì được xây bằng gạch, gỗ, xi măng. Home (mái ấm) thì
chỉ cần tình thương và hiện diện bên nhau.
Có thể ta đang sống trong một căn nhà
(house) to lớn sang trọng nhưng ta cô đơn và không có tình thương yêu
thì căn nhà đó chẳng bao giờ được gọi là home, là mái ấm cả. Chữ Home
đôi khi còn dùng cho quê hương, tổ quốc nữa: “Homeland” một chữ vừa gợi
hình vừa đầy tình tự dân tộc. Nhớ nhà (homesick) là nhớ cái tổ ấm có
những người thân yêu sống trong đó, chứ không nhớ cái nhà vô tri vô giác
bằng gạch.
Người Việt mình chỉ dùng một chữ “Nhà”
thôi nhưng trong câu nói thì rất rõ rệt. Khi nói: “Tôi đang xây nhà.”
Người nghe hình dung ngay trong đầu hình ảnh một ngôi nhà với gạch,
ngói, xi măng, gỗ, sắt đang được hoàn thành. Nhưng khi nghe: “Cuối năm
rồi, nhớ nhà quá !” Thì biết ngay là người đó đang xa gia đình hay xa
quê hương. Chữ nhà đó cho ta hình ảnh một mái ấm, có những người thân
yêu trong đó hay cho ta niềm cảm thông ngay lập tức với một kẻ xa quê
hương xứ sở.
Quê nhà xa lắc xa lơ đó
Trông lại tha hồ mây trắng bay (NguyenBinh)
Cuối năm tôi đang “homesick”. Tôi đang nhớ
nhà, nhớ nước, là nơi tôi đã xa gần bốn mươi năm. Tôi lơ mơ nhớ lại
những căn nhà tôi đã đi qua: Căn nhà đầu tiên nhỏ lắm, nhưng rất ấm áp
và đầy đủ. Nơi đó tôi không phải lo lắng ấm lạnh, đói no. Tôi chỉ ăn và
ngủ. Tất cả đã có mẹ tôi lo liệu, từ đi đứng, nằm ngồi. Mẹ ăn, tôi ăn,
mẹ ngủ, tôi ngủ, mẹ đi, tôi đi, mẹ cười, tôi vui, mẹ khóc, tôi buồn…Thật
đáng tiếc, tôi không thể ở lâu được trong ngôi nhà này, tôi chỉ cư ngụ ở
đó một thời gian ngắn, chín tháng. Tôi phải dọn ra, để còn nhường chỗ
cho em tôi dọn vào sau này. Căn nhà đó chính là cái dạ con của mẹ tôi,
nơi trú ngụ an toàn nhất của đời mình.
Sau này khi tôi di tản từ Việt Nam sang
Mỹ, tôi liên tưởng cái dạ con của mẹ cưu mang tôi có một phần nào giống
như trại tỵ nạn Camp Pendleton, tôi tới đó chờ chuyển tiếp vào một đời
sống mới ở Mỹ, một nơi chốn xa lạ. Bụng mẹ cũng là nơi đón nhận tôi từ
tinh cầu mơ hồ nào rơi xuống, lo cho tôi đầy đủ trước khi tôi bước vào
những căn nhà lạ hoắc khác nhau của đời sống con người trên mặt đất.
Khác chăng mẹ không bỏ tôi ngay sau khi tôi dọn ra, mẹ luôn đi theo bên
cạnh tôi lo lắng, thương yêu, cho đến khi mẹ bắt buộc phải dọn một mình
vào căn nhà cuối cùng của mẹ.
Khi tôi vừa đủ trí khôn để ý thức được sự
dời đổi và tôi có thể nhớ đến ngày hôm nay, một phần qua trí nhớ mơ hồ,
một phần qua lời kể của cha mẹ hay anh chị lớn hơn, thì bắt đầu một cuộc
hành trình dời đổi.
Từ Hà Nội cha mẹ tôi mang các con chạy
loạn về quê ngoại, làng Thanh Nga tỉnh Thái Bình. Tôi nhớ được gánh
trong hai cái thúng, chị tôi một đầu, tôi một đầu. Ở Thái Bình một thời
gian, chúng tôi được xem tát ao, xem bắt cá, xem giã gạo, đập thóc, được
câu cá và chơi với trẻ em nhà quê thò lò mũi xanh. Cha tôi hay ra đình
dạy học và dạy võ cho người làng.
Rồi từ Thái Bình, lại chạy sang quê nội ở
Nam Định, chúng tôi cũng qua hai ngôi nhà của họ hàng ở đây. Mấy tháng
sau, từ Nam Định hồi cư về Hà Nội, ở Hà Nội được hai năm qua ba căn nhà,
cha tôi là công chức bị thuyên chuyển xuống Hải Phòng, ở Hải Phòng bốn
năm tiếp theo là cuộc di cư từ Bắc vào Nam.
Tôi ngồi lơ mơ nhớ lại, đếm trong đầu: từ
lúc tôi ở trong ngôi nhà đầu tiên là bụng mẹ, cho đến lúc di cư vào Nam
1954, chưa được 9 tuổi, tôi đã ở qua chín ngôi nhà.
Năm 1954 tôi đã khá lớn, có thể tự nhớ
những căn nhà mình đã dọn vào, dọn ra không cần nghe ai kể lại. Vào Sài
Gòn bắt đầu tạm trú ngay trong sở Địa Chánh, nơi cha tôi làm việc ở
đường Hai Bà Trưng, con đường ngay sau Bưu Điện Sài Gòn. Tôi đi học ở
trường Hòa Bình thuộc nhà thờ Đức Bà. Được ít tháng, mẹ tôi thuê được
nhà ở bên Thị Nghè. Gia đình tạm coi như yên ổn được vài năm. Chúng tôi ở
Thị Nghè từ đó cho đến năm 1975. Nhưng trong thời gian dài đó gia đình
tôi cũng mua, bán, thay đổi nhà thêm ba lần nữa, dù vẫn chỉ loanh quanh ở
gần nhà thờ Thị Nghè.
Tôi sang Mỹ với cha mẹ già, từ Camp
Pendleton, California, chúng tôi đi qua nhà người bảo trợ ở thành phố
Encino ; một tháng sau, tôi có việc làm dọn ra căn chung cư ở Los
Angeles ; lập gia đình, dọn nhà hai lần nữa ; sanh đứa con đầu lòng, dọn
sang nhà mới, mua ở Rosemead ; rồi đổi nhà khác về Westcovina. Ở
California được 13 năm, qua 7 căn nhà khác nhau. Chúng tôi lại dọn lên
vùng tây bắc nước Mỹ, bang Washington cho gần quê nội bên chồng ở
Montana, để mỗi mùa hè có thể lái xe mười tiếng mang các con về thăm
nội. May quá, ở Seattle từ mùa hè 1988 đến hôm nay, chúng tôi chỉ đổi
nhà một lần. Từ thành phố Issaquah sang Bellevue cách nhau có hai exit ở
xa lộ.
Từ lúc rời căn nhà đầu tiên là bụng mẹ đi
ra, ngẫm lại thì tôi đã ở không biết bao nhiêu ngôi nhà, tôi không muốn
đếm nữa.Tôi đi suốt từ miền Bắc đến miền Nam nước Việt, từ quê hương
Việt Nam tới nước Hoa Kỳ. Nghĩ lại mà bàng hoàng. Sao mà dời đổi nhiều
thế, sao đi xa thế nhỉ?
Những ngôi nhà tôi ở dài thời gian hay
ngắn cũng đã cho tôi bao nhiêu là kỷ niệm. Ký ức đôi khi lấp lánh như
được rắc bằng kim nhũ, đôi khi long lanh như nước mắt. Những mái nhà từ
quê đến tỉnh, từ nước Việt sang nước Mỹ. Khi thì mái lá, khi mái lợp
tôn, khi mái lợp ngói, khi mái gỗ, đã cho tôi nghe bao tiếng mưa rơi
mang âm điệu khác nhau và sự ấm lạnh khác nhau của cả bốn mùa.
Dưới những mái nhà đó, bao nhiêu kỷ niệm
từ thời thơ dại, thuở bắt bướm, hái hoa. Có gặp gỡ, có hẹn hò. Có đêm
nhìn hỏa châu, có ngày nghe pháo kích. Khi trưởng thành biết yêu, biết
nhớ, biết đau khổ và biết hạnh phúc phải trả bằng giá nào mới có. Mỗi
lần dọn nhà, trước khi giao nhà cho người khác, quay lại nhìn căn nhà
trống, nghĩ mình đã một thời sống dưới mái nhà này, cười, khóc trong
những bức tường này. Gian bếp, buồng ngủ, mảnh vườn, mỗi nơi mang theo
biết bao là dấu vết của đời sống gia đình. Có căn nhà mình sống với cha
mẹ ở đó, có căn là nơi mình đón những đứa con ra đời, có căn là nơi mình
khóc tiễn đưa mẹ cha lần cuối. Khi dọn đi làm sao xóa được dấu tích
thân yêu, tránh khỏi một chút ngậm ngùi.
Cứ mỗi lần dọn vào một nơi ở mới, dù là
nhà thuê hay nhà mua, tôi thường mời linh mục đến làm phép nhà. Cầu xin
cho gia đình mình bình an, cầu xin cho những người đã ở trong nhà đó
trước khi chúng tôi dọn tới và cầu xin cả cho những người sẽ dọn vào sau
chúng tôi:“Nhất điền thiên vạn chủ.” Làm sao tôi biết được đời sống
nào, những con người sống trong căn nhà này trước tôi đã kinh qua và
người đến ở đây, sau chúng tôi sẽ phải đối diện những gì.
Những căn nhà khác chi những toa tàu trong
đời sống, mỗi sân ga ta xuống, mỗi toa tầu ta vịn leo lên, ta mang theo
những gì, bỏ lại những gì? Hạnh phúc, đau khổ, tiếng cười, giọt lệ? Lên
một toa tàu để xuống ở sân ga khác, nào ai biết được điều gì xảy ra
trong chọn lựa ấy? Ta đã gặp và đã chia tay biết bao nhiêu người ở những
trạm lên, xuống đó. Và người đồng hành với ta nữa. Có người gắn bó theo
ta suốt cả một đời, cùng dọn ra, dọn vào trong những ngôi nhà ấm, lạnh
đó. Có người ngó trước, trông sau, bỗng bâng khuâng thốt lên: “Lần này
ta dọn vào đây chỉ có một mình à?”
Ôi ! Những kẻ tôi chỉ chào một bận,
Chân xa mau, lòng chưa kịp giao thân,
Trên đường tôi nếu trở lại vài lần,
Chắc ta đã yêu nhau rồi, – hẳn chứ… (Tình Nhớ, Huy Cận)
Rồi còn những người được coi là vô gia cư
(homeless). Có bao giờ họ mơ ước có một mái ấm đủ vợ chồng con cái quây
quần bên lò sưởi trong một tối mùa đông? Một thời nào đó, những người
homeless này chắc cũng đã từng được hưởng hạnh phúc mái ấm gia đình.
Căn nhà cuối cùng của mỗi người nữa. Hình
như ai đó đang xây những lăng tẩm không kém gì vua chúa thời xa xưa, để
dọn bộ xương của mình vào. Nhưng lại có những người từ chối cả một nấm
mồ. Họ muốn rắc tro than mình lên núi hay thả vào lòng biển. Họ chọn
ngôi nhà cuối cùng không có mái, không có bốn vách tường, để linh hồn
được tự do tan biến vào thiên nhiên.
Nhưng ai biết được ngôi nhà cuối cùng của
mình đã sở hữu trước có bảo đảm là mình được dọn vào hay không? Thiên
tai có thể quét sạch, san bằng lăng tẩm đã xây. Chiến tranh có thể đẩy
ta sang sinh sống ở một phần đất của quốc gia khác.
Thôi thì hãy đặt đời ta sống, chết, trong võng gió của Thượng Đế.
Một người lính thi sĩ đã viết xuống một bài thơ về những ngôi nhà và chiến tranh như sau.
Ở những ngôi nhà này
không còn gì cả
ngoài những mảnh vụn ký ức
Những người đã từng trò chuyện với tôi
không một ai sót lại
Nhưng trong trái tim tôi
Không một thánh giá của ai rơi mất
Trái tim tôi
một trú xứ thống khổ tràn đầy. (*)
Trần Mộng Tú
(*) Thơ-Giuseppe Ungaretti- San Martino
Del Carso: Of these houses /nothing/ but/fragments of memory /Of all
who/would talk with me/ not one remains.
But in my heart/no one’s cross is missing/My heart is/the most tormented country of all.
Comments
Post a Comment