Thế rồi bỗng dưng Lân ngả bệnh. Hoàng chạy chữa đủ
thầy đủ thuốc, cuối cúng số phận cướp mất hạnh phúc của họ.Lân qua đời,
hôm đám tang cố tôi giúp sức, chôn cất người bạn xong thì tôi cũng mệt
nhoài. Tôi sợ chị Hoàng không đứng vững nổi trước thử thách quá sức chịu
đựng này. Hôm nay là ngày thứ bảy sau cái chết của Lân, tôi nghĩ mình
phải có bổn phận tới thăm người vợ vừa mất chồng. Người chết thì đã an
phận, còn người sống là chị Hoàng cần vượt qua được cái dốc đau thương
cao vời vợi nầy. Sự có mặt của bạn bè lúc này thực là cần thiết.
Bảy giờ tối tôi đến nhà chị. Tôi nghĩ vào giờ này con người
ta bắt đầu cô đơn. Ban ngày dù sao cũng có người lui tới, có công việc
làm cho khuây khoả nỗi buồn, Khi công việc xong thì chắc chắn nỗi buồn
ập đến. Tôi nghĩ mình phải xuất hiện đúng lúc để xua đi phần nào nỗi cô
đơn cho người đàn bà bất hạnh này.
Tới nơi tôi lại rất ngạc nhiên. Nhà chị đèn đuốc sáng trưng.
Tại phòng khách đang có đông người, đàn ông lẫn đàn bà, có người tôi
biết mặt, cũng có người tôi không biết. Chị Hoàng ngồi chính giưa, khách
khứa chung quanh. Trước mặt tôi không hề thấy hình ảnh một goá phụ ràn
rụa nước mắt như tôi đã tưởng tượng trước khi ra đi. Tôi thấy nét mặt
chi nghiêm nghị chứ không có chút gì tỏ ra não nuột phiền muộn. Còn mọi
người thì có cái gì đó gần như là một sự háo hức chờ đợi.
Chị Hoàng đang kể chuyện. Giọng nói của chị tuy nhỏ nhưng lại rất trong nên dễ nghe :
-Chiều thứ bảy hôm đó ảnh đi làm về, như mọi ngày thì Lân đi
tắm rồi ra ngồi xem tờ báo “Tin Chiều”. Thường thường ảnh vừa xem báo
vừa lai rai cốc rượu nhỏ. Nhưng hôm đó ảnh than mệt, không tắm, không
xem báo, không uống rượu. Lân vào giường nằm, nhắm mắt. Từ ngày hai
chúng tôi lấy nhau anh ấy sống điều độ như một chiếc đồng hồ, chẳng bao
giờ có cái giấc ngủ bất thưòng như thế này. Tôi tự nhủ chắc có vấn đề gì
làm cho anh bận tâm. Nhưng tôi tự trấn an mình, vả lại tuần qua đi công
tác hai lần, chắc là ảnh mệt, năm nay anh cũng đã bốn mươi chín rồi.
Cái đồng hồ đâu có thể đúng giờ mãi được, cũng có lúc nó trục trặc chứ.
Tôi nhẹ nhàng sờ vào trán anh, thấy vẫn mát nhưng ấm, còn hơi thở thì
hình như cái dài cái ngắn. Tôi tự nhủ không sao, ai lại chẳng có lúc như
thế này…
Chị Hoàng dừng lại mời mọi người uống nước. Tôi thấy họ có vẻ
chăm chú vào câu chuyện của chị. Tôi nghĩ nói năng một cách mạch lạc như
thế chứng tỏ trong bảy ngày qua chị đã có dịp kể về cái chết của chồng
nhiều lần cho nhiều người nghe rồi. Câu chuyện kể lần đầu tiên chắc
không thể mạch lạc như thế. Chị tiếp tục:
-Đến giờ cơm tôi vào phòng, tính nếu ảnh ngủ thì để cho ngủ,
nếu đã thức rồi thì mời dậy xơi cơm. Khi tôi rón rén tới gần. Lân trở
mình hỏi :”Mấy giờ rồi?” Tôi đáp bảy giờ rồi mời anh ra xơi cơm. Chàng
nói một cách mệt nhọc:”Không , em và các con ăn đi”. Tôi hỏi :”Mình ăn
cháo em nấu nhé?” Chàng đáp:” Không” rồi nhắm mắt lại. Tôi biết Lân chưa
ngủ, nhừng trông cái cái thở thì biết Lân rất mệt. Tôi không dám hỏi
nữa, đi ra khép cửa lại. Nửa đêm Lân kêu lạnh. Tôi đắp mền cho chàng,
Lân run lập cập, hai hàm răng va vào nhau. Cả đời tôi chưa thấy người
nào lạnh tới mức nầy. Tôi xức dầu nóng và ủ mền rất nhiều, chàng vẫn còn
run. Tôi tính chở Lân tới phòng mạch bác sĩ nhưng đã quá khuya mà cũng
chưa thể gọi là sáng. Chiếc đồng hồ quả lắc ở phòng khách ngân nga đổ ba
tiếng. Tôi định đợi tới năm giờ, nghĩa là còn tới hai giờ nữa. Tôi sống
trong sự chờ đợi và lo âu, thời gian kéo dài ra. Gần sáng thì cơn lạnh
đi qua, chàng toát mồ hôi nhưng vẫn trằn trọc nằm không yên.Đúng năm giờ
tôi gọi xe chở Lân đi bác sĩ…
Chị Hoàng dừng lại nhìn chung quanh rồi gọi lớn: Liêm ơi, lấy
cái bình thuỷ lên đây. Trời ơi, con bé đi đâu mà không lo chăm nước”. Có
tiếng một người nào đó nói:”Thôi nước non chi, xin chị kể tiếp đi”. Vị
khách này rõ ràng chỉ muốn nghe kể chuyện. Đến lúc này tôi mới vỡ lẽ ra
rằng nhiều người tới thăm không chỉ để chia buồn mà kỳ thực trong thâm
tâm họ muốn được nghe kể lại câu chuyện cái chết. Tôi không hiểu tại sao
cái chết của một con người có cái gì thu hút sự hiếu kỳ đến thế. Hôm
nay họ tề tựu lại đây để phân ưu hay để được nghe chuyện thật khó mà
biết được.. chị Hoàng là vai chính trong câu chuyện, chị lại được tập
dượt nhiều lần nên câu chuyện của chị ngày càng trôi chảy hấp dẫn.
Chị mời mấy người đàn ông dùng thuốc, mời các bà các cô dùng
nước.Chị ngồi khoanh tay trước ngực, lưng thẳng, nét mặt diễn tả phần
nào tâm trạng nhân vật và tình huống của câu chuyện. Chỉ có điều là chị
biết hạn chế, không để trở thành thái quá mà trong tình cảnh một quả phụ
không được phép làm.
-Trời ơi, khổ ơi là khổ! Lân thì to nặng mà kêu phải ông đạp
xích lô vừa già vừa yếu, cái xe lại cũ kỹ ọp ẹp. Ông già vừa đẩy xe vừa
thở. Tôi đẩy tiếp nhưng lỡ mang đôi guốc cao gót nên trật lên trật xuống
mới khổ cho chứ. Chiếc xe vừa lên dốc cầu Ông, đẩy quá nửa cầu giố từ
sông thổi lên lạnh buốt. Đèn đường sáng mờ mờ trong làn sương, chiếc xe
lại trở chứng, sắp sửa đổ dốc thì một bánh xe xẹp!
Đến đoạn này chị Hoàng đưa vào câu chuyện một tình tiết tuy
không liên quan trực tiếp tới cái chết nhưng làm cho câu chuyện trở
thành sống động và thực hơn. Có tiếng người hỏi ra vẻ sốt ruột:”Rồi sao
nữa?”
-Vào giờ đó thì có nơi nào sửa xe? Tôi nghĩ chỉ còn cách thuyết
phục ông già xích lô đẩy Lân tới phòng khám bệnh. Ông già cằn nhằn:"
Chạy cuốc này được bao lăm đồng mà đẩy đi như thế nầy dập hết ruột của
tôi”. Chắc ông lão muốn nói dập cả ruột xe lẫn ruột người.
Tôi nghe có nhiều tiếng cười. Chị Hoàng cũng cười, nhưng chị
kịp ngăn nụ cười lại. Ai lại có thể cười được khi chồng mới qua đời chỉ
có bảy ngày?
-Gõ cửa phong mạch bác sĩ mãi mới nghe, trong nhà có tiếng dép
lẹp xẹp. Rồi đèn bật sáng ,cửa mở. Hiện ra trước mặt tôi không phải ông
bác sĩ mà là bà vợ ông ta. Lần đầu tiên tôi thấy mặt vợ bác sĩ Mỹ, tôi
muốn nói mặt trần không son phấn, trông thảm hại làm sao, ngày thường có
son phấn còn đỡ..
Tôi sợ chị Hoàng đi quá xa.Tôi nghĩ những chi tiết kiểu nầy đưa
vào câu chuyện cái chết của Lân không biết có hợp hay không, có làm
loãng đi cái ý chính đi không ?Tôi quan sát một vòng bộ mặt quí thính
giả ngồi chung quanh rõ ràng thể hiện sự hiếu kỳ lẫn thích thú. Như thế
có thể kết luận là chi không đi lạc. Tôi lại nghĩ đàn bà cũng lạ thật,
trong những hoàn cảnh khó klhăn họ vẫn quan tâm tới nhan sắc của nhau.
-Phải nửa giờ sau thì bệnh nhân mới gặp được bác sĩ .Câu nói
đầu tiên của ông thầy thuốc làm cho tôi nhẹ hẳn người:”Ồ không sao đâu,
chẳng có gì nghiêm trọng cả, chở đi đâu mà sớm thế?” Về sau tôi mới nhớ
ra rằng ông bác sĩ này chưa sờ tới bệnh nhân, không phải ông an ủi chúng
tôi mà ngầm trách chúng tôi đã đánh thức cả nhà ông dậy. Ngoài cái câu
đó ra, ông chẳng nói chẳng rằng gì.Ông nghe, gõ, biên toa, rồi tính
tiền.Cái điều tôi mong là biết được chồng tôi bệnh gì, nặng nhẹ ra làm
sao, lại chẳng thấy ông đá động đến. Thấy khuôn mặt ông không biểu lộ
chút cảm xúc gì nên tôi cũng tự an ủi :Chắc cũng là bệnh xoàng. Tôi lại
kêu xe chở Lân về nhà. Tôi đi mua thuốc cho chàng. Tôi hỏi ông dược sĩ
bệnh của chồng tôi. Ông ta nói đọc cái toa này không thể biết bệnh gì,
chỉ thấy toàn thuốc kháng sinh và thuốc bổ. Lân uống thuốc, ba ngày sau
vẫn không thuyên giảm, đêm nào cũng nóng rồi lạnh, sức khoẻ xuống dần,
nước da vàng không ăn uống gì cả.
Nghe chị Hoàng kể tôi càng tin chắc giả thuyết tôi nêu ra ban
đầu là đúng. Chị đã có dịp kể câu chuyện này nhiều lần rồi. Chị biết xếp
đặt câu chuyện mạch lạc không chê vào đâu được.Chị đã dụng tâm để có
khi đi xa chủ đề rồi quay lại.Dòng chính của câu chuyện vẫn giữ được mà
người nghe không thấy chán.
-Chúng tôi còn tới phòng khám của bác sĩ Mỹ thêm hai lần nữa.
Nhưng bệnh của chồng tôi ngày một nặng hơn.Rồi anh quyết định đưa anh
vào bệnh viện. Tôi sững sờ. Chính bệnh nhân đã thấy rõ sự trầm trọng của
căn bệnh mình. Chính Lân chọn cho mình nơi chữa trị, như thế không còn
nghi ngờ gì nữa bệnh của chàng rất nặng. Tại bệnh viện người ta làm
nhiều xét nghiệm. Hết người này tới sờ tới nghe lại đến người khác. Kết
quả ra sao tôi không biết vì họ dùng từ ngữ chuyên môn với nhau, nhưng
trông nét mặt người nào cũng tỏ vẻ trầm ngâm. Trong câu chuyện của họ
tôi chỉ nghe loáng thoàng chữ “Gan”. Càng về sau chữ này xuất hiện càng
nhiều. Họ lại nghe, lại thử, lại cho thuốc. Bây giờ không phải chỉ đơn
độc chữ “gan” mà còn thêm vào chữ “xơ”, rồi chữ này cũng biến mất, thay
vào đó là chữ “ung thư”! Trời ơi đến lúc này thì tôi hiểu tất cả rồi..
tôi hiểu hết số phận của gia đình chúng tôi. Lân thì ngày càng yếu. Da
vàng như nghệ, đôi mắt trở thành đục như tràng một lớp nước vo gạo. Da
mặt vừa bóng vừa vàng như chiếc vại sành. Cái bụng to dần, to một cách
kỳ dị, lệch sang một bên như quả bí ngô méo mó. Chân tay teo tóp lại
nhanh đến nỗi tôi không ngờ. Mỗi khi thay quàn áo cho chàng tôi không
cầm được nước mắt. Trên mặt chàng hai hố chứa đầy bóng tối, môi khô da
bong ra từng mảng rồi nứt nẻ rớm máu.
Đến đoạn tả người chị Hoàng luôn luôn dùng hình ảnh kèm theo
giúp cho người nghe dễ tưởng rtượng ra hình ảnh con bệnh. Rồi chị kể đến
đoạn các thầy thuốc Tây y bó tay.Chị đem Lân về nhà trong nỗi đau
thương ê chề. Rồi các vị đông y cũng chạy dài. Chị nuôi hy vọng vu vơ,
ai biểu gì cũng làm theo, cho đến cái đoạn mà tôi cho là lý thú hơn cả
trong câu chuyện, là đoạn nói về con rắn lục đuôi đỏ. Hãy nghe chị kể :
-Ông thầy ngải kêu tôi ra sau hè dặn nhỏ”Bây giờ chỉ còn cách
này là cứu được nhưng hơi khó, trong một tuần lễ phải kiếm cho ra một
con rắn lục đuôi đỏ, bỏ trong chiếc nồi đất hầm thành than cho ổng uống
thì tức khắc hết bênh”. Tôi hỏi rắn ở đâu mà tìm ? Ông thầy nói một cách
úp mở:” Nếu phần phước của ông mà còn thì sẽ có quơi nhân giúp cho”.
Tôi cho người đi tìm. Cơ khổ, ở cái nơi phố phường nhộn nhịp thế này
biết con rắn đuôi đỏ ở đâu ? Tới ngày thứ năm rồi mà vấn không thấy một
tia hy vọng. Tôi tự nhủ phần số của chồng tôi đã hết rồi ! Qua ngày thứ
sáu, trong khi tôi đang ngồi khóc rấm rức thì bỗng dưng nghe tiếng người
nói lơ lớ trước nhà. Tôi chạy ra thì thấy một người Chàm mặc áo dài
trằng, đầu cũng đội khăn trắng, tay xách chiếc giỏ mây bên trong có con
rắn. Một con rắn lục đuôi đỏ! Tôi mừng đến nỗi suýt quỳ xuống lạy tạ
người bán rắn. Tôi mừng vì đã có quới nhơn phù hộ và như thế thì số phần
của chàng chưa hết. Con rắn nằm một cách hiền lành trong chiếc giỏ.
Người Chàm thản nhiên cho tay vào giỏ bắt con rắn ra đưa cho tôi rồi
nói:”Cầm đi nó không cắn được đâu, miệng nó bị may lại rồi!”. Vì mừng
quá, vì thương chồng, tôi liều cầm con rắn: nó ngo ngoe, mềm nhũn, lạnh
ngắt, tôi rợn cả người. Con rắn dài cở nửa thườc, màu xanh như chiếc đọt
chuối non, vảy của nó đỏ dần về phía đuôi. Người Chàm cho nó vào chiếc
nồi đất, lấy vung đậy lại rồi lấy đất sét trám chung quanh. Anh ta bắc
nó lên bếp lửa đỏ rực. Con rắn vùng vẫy ở bên trong. Trời ơi tôi nghe có
tiếng rít! Người Chàm bảo :”nó huýt gió”. Tôi không hiểu nổi trong cảnh
đó có gì vui mà con rắn này huýt gió. Sau nửa giờ con rắn hoá thành
than. Tôi cho Lân uống trong bảy ngày, vừa hết con rắn thì Lân qua đời.
Sau này tôi mới vỡ lẽ ra rằng đây là một cuộc xếp đặt của ông thầy ngải
để bán con rắn với giá thật cao.
Câu chuyện chị Hoàng kể nhờ con răn lục đuôi đỏ và âm mưu của
ông thầy ngải trở nên ly kỳ lại hoá ra nhẹ nhàng hơn cho một cái kết bi
thương. Rồi chị kể tới việc ma chay chôn cất. Nhưng trong cảnh đau
thương ấy chị lại đưa vào một chi tiết rất lạ :
-Khi thấy chàng gần tắt hơi, tôi thương cảm quá nói với Lân như
thế này :”Mình yên tâm mà đi, em thề với mình em ở vậy nuôi con thờ
chồng. Ôi kỳ lạ thay ! Tôi thấy mắt ảnh hé mở, chớp chớp mấy cái, cổ gục
gặc, hình như đôi môi thoáng nở nụ cười ra chiều mãn nguyện!
Cái chi tiết mà tôi cho rằng hài hước độc đáo này đã làm cho
câu chuyện bớt đi tính chất nặng nề. Nhà văn, người viết kịch, kẻ dựng
phim cũng thướng sử dung kỹ thuật nầy. Sau khi làm cho khán giả căng
thẳng, đau thương hãi hùng tột độ, họ trả lại cho người xem sự thư giãn,
thở phào, nhẹ nhõm. Không biết chị Hoàng tình cờ phát hiện hay xchị đã
học ở đâu đó cái kỹ thuật tài tình này?
**
Mấy ngày sau tôi tới thăm chị Hoàng cũng khoảng vào bảy tám giờ
tối. Cảnh cũ lại tái diễn: chị ngồi kể chuyện cho nhiều người nghe. Tôi
cũng ngồi xuống quan sát thấy số người có giảm hơn lần trước. Tôi ngạc
nhiên vì câu chuyện chị kể lần nầy có vài chỗ khác so với câu chuyện ban
đầu. Chị đã biết bỏ đi một số đoạn mờ nhạt để thế vào đó những tình
thiết sắc nét hơn. Kết cấu câu chuyện chặt chẽ và chị biết thêm vào
những đoạn mô tả tâm trạng từng nhân vật.
Chị nói tâm trạng của chị chuyển bbiến từ chỗ lo âu rồi tự dối
mình để bớt lo âu, sau thì lo lắng thực sự, rồi sợ hãi, sầu não, mất hy
vọng chán chường, buông xuôi. Còn Lân thì có lúc yêu thương vợ con, có
lúc lại oán hận vì thiếu sự chăm sóc, dễ dãi rồi khó khăn, trách móc rồi
tha thứ… Lúc đâu thì hình như chàng sợ chết, sau không còn sợ chết nữa,
chỉ lo cho vợ con không có ai lo, cuối cùng thì chàng chẳng còn lo sợ
gì tất cả, đó cũng là lúc chàng sắp lìa đời. Chị phân tích tâm lý từ vai
chính cho tới những vai phụ trong cái vở kịch lớn này. Tôi thầm phục sự
tinh tế của người đàn bà nầy. Đến đây ngoài sự liệt kê câu chuyện mà
còn mang tính nghệ thuật nữa. Nếu ngày sau tôi có nghe chị trở thành nhà
văn chắc tôi cũng không lấy gì làm ngạc nhiên.
**
Tháng sau tôi lại có dịp đến thăm chị Hoàng. Cũng vẫn cảnh chị
Hoàng kể chuyện cho người khác nghe. Có điều số lượng người nghe ít hơn
hai lần trước nhiều. Nhưng bù lại tôi được nghe một câu chuyện mà theo
tôi là hoàn chỉnh hơn cả.
Để cho câu chuyện thêm phần huyền bí chị thêm vào những chi
tiết ly kỳ. Chị nói ngay từ buổi đầu mới lấy nhau đã có những dấu hiệu
báo trước sự bất hạnh, đã có những điềm gở. Hai cây bạch lạp trên bàn
thờ đang cháy, trời im phăng phắc không một cơn gió, bỗng cây đèn cầy
bên trái tắt ngấm, rồi bình hương bốc lửa ngọn. Lại một điềm lạ nữa,
trước khi phát bệnh một tuần, như được linh tính báo trước, một hôm Lân
soạn tất cả quần áo cũ gói lại thành một gói đem cho. Khi hỏi sao không
để dùng thì Lân nói : để thêm chật hòm!”. Theo chị thì quá rõ, chỉ có
người Bắc mới nói cái rương bằng hòm. Lân đâu phải là người Bắc. Mà đúng
thật, đến khi tẩm liệm cho chàng chẳng còn áo quần cũ bỏ vào cho chàng.
Lúc còn nằm ở bệnh viện, một đêm Lân ú ớ. Khi lay dậy chàng nói :”Ghê
quá có ba người đàn bà đứng trên đầu giường chỉ vào anh. Một bà thật
cao, một bà vừa, một bà lùn tịt bằng đứa bé lên năm. Rùng rợn hơn cả là
họ đen như lọ chảo!”
Như thế theo chị Hoàng thì cái chết của chồng đã được báo
trước, ba bóng ma là cái hình ảnh kết thúc số phận hẩm hiu của chàng.
Riêng phần kết cả ba câu chuyện chị kể đều đưa vào thuyết số mệnh nhưng
cả ba cái kết đều có khác nhau. Câu chuyện đầu tiên chị oán trách số
phận nghệt ngã. Câu chuyện thứ hai chị cho số mệnh là điêù tất nhiên nên
không còn oán trách số mệnh mà còn thầm cảm ơn bởi vì sinh ký tử quì
chết là trở về.Có ai ở mãi cõi đời ô trọc này nhất là chồng chị, con
gnười đạo đức toàn vẹn. Với cái kết luận nầy chị đã tự an ủi mình mà còn
làm cho người nghe cảm thấy lòng thanh thản hơn. Chỉ có điều với một
câu chuyện hay như thế mà số người nghe lại ít hơn những lần trước rất
nhiều. Không biết điều đó có làm cho chị buồn hay không ?
***
Một thời gian sau tôi lại có dịp đến thăm chị Hoàng. Lần này
cảnh cũ không còn nữa. Chị Hoàng ngồi một mình ủ rũ trong phòng khách.
Trông chị cô đơn hơn lúc nào hết. Kỳ lạ thay, ba tháng sau cái chết của
người chồng trông chị lại buồn thảm hơn những ngày đầu. Thấy tôi đến chị
rất mừng. Chị lo pha trà mời. Chị mời tôi uống, chị cũng uống. Uống trà
xong tôi đem những chuyện không đâu ra nói với chị. Tôi tránh nhắc lại
cái chết của Lân. Tôi nghĩ khơi lại nỗi đau của người quá phụ thì thật
là độc ác. Nhưng tôi thấy chị lơ đãng với tất cả mọi chuyện. Tôi lại
nghĩ hay là chị đã quen với việc kể chuyện. Kể chuyện đã trở thành một
nhu cầu trong người chị rồi. Chị cần kể chuyện hay có thể nói chị đã
ghiền kể chuyện. Vậy thì không để cho chị kể chuyện mới thật là độc ác
đối với chị. Nghĩ thế cho nên tôi lại bắt đầu:”tội nghiệp qua, không
biết hôm đó chuyện xảy ra như thế nào”…
Chị Hoàng hình như chỉ đợi có thế.
Chiều thứ bảy hôm đó… ■
QUÝ THỂ
Comments
Post a Comment