Ông tiết canh ngan - Hoàng Xuân Hoạ
Cả cơ quan nhốn nháo khi nghe tin ông Tiết - biệt danh “Tiết Canh Ngan” sắp về thăm huyện nhà. Từ quân đến cán, ai nấy đều lo sốt vó bởi lời đồn thổi đại loại: Hễ nơi nào đón tiếp ông thiếu chu đáo, kém hoành tráng, y như rằng sau đó sẽ bị ông cho “lên bờ xuống ruộng”.
<!>
Nhẹ thì chuẩn bị hứng một “trận mưa” văn bản yêu cầu báo cáo khẩn, toàn những số liệu từ thời “chống Mỹ, đánh Tàu” xa lắc xa lơ mà hạn nộp lại là... ngay sáng ngày mai. Nặng thì ông phái ngay đoàn thanh tra tới “nằm ì ăn vạ”, ngày đêm rà soát từng tờ hóa đơn tiếp khách, hoặc bắt giải trình chi tiết từng mét khối rác thải tồn đọng ngoài bờ sông Mỹ Cọ. Thâm thúy hơn, đôi khi ông chỉ cần bâng quơ chỉ đạo huyện thực hiện một dự án thí điểm “bất khả thi” nào đó, kèm theo lời dặn hờ hững: “Kinh phí thì... cứ vay vốn ngân hàng mà làm trước đi đã!”. Không làm thì coi chừng, mà làm thì cái bẫy nợ xấu treo lơ lửng trên đầu.
Thực ra, sở thích của vị quan lớn này chẳng có gì đao to búa lớn, trái lại, cực kỳ đơn giản! Này nhé: Khi chiếc chuyên xa chở ông và đoàn tùy tùng vừa tới, dù cái cổng huyện to lù lù đủ sức cho xe tải mười lăm tấn chui lọt, ông vẫn bắt tài xế đỗ tít ngoài đường cái quan. Ông muốn cơ quan sở tại phải có dàn nam thanh nữ tú xếp hàng ôm hoa cung đón; các quan chức địa phương cũng phải khúm núm ra tận lề đường rước ông vào “huyện đường”.
Đặc biệt, nghi thức đón tiếp nhất thiết phải có một dàn nhân sự trẻ măng gồm bảy nam, bảy nữ. Bảy chàng trai phải diện sơ mi vải pô-pơ-lin trắng toát đóng thùng với quần bò Mỹ; bảy cô gái thì thướt tha trong tà áo dài mang đủ bảy sắc “cầu vồng đi đón cơn mưa”: đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm, tím. Bên dưới, các nàng diện quần trắng đồng màu bằng chất vải sa-tanh mỏng tang, mỏng dính. Tất cả chỉ để phục vụ cho cái thú vui tao nhã của ông: vừa bước xuống xe là được ngắm “rừng” ngó “núi” cho tỉnh người, tươi đôi mắt sau chuyến vượt mấy trăm dặm đường đèo dốc tới thăm địa phương.
Khổ nỗi, cái sự “tỉnh người”, “tươi đôi mắt” của ông lại là nỗi kinh hoàng cho cả bộ máy hành chính sở tại. Để có được hai hàng “đội hình” chuẩn chỉnh ấy, gã Chánh văn phòng đã phải lục tung danh sách cán bộ, huy động từ Hội Phụ nữ đến Đoàn Thanh niên, thậm chí phải “mượn” cả mấy cô giáo mầm non thực tập mới đủ quân số phục vụ sở thích oái oăm của ông. Đúng ngày ông “Tiết Canh Ngan” đến, nắng không những đổ lửa xuống toàn miền thượng du bạt ngàn đá xếp, đá chồng, đá chông, đá gươm, đá giáo, mà còn dội thẳng xuống đầu những người đang chực chờ đón ông. Hai hàng nam thanh nữ tú đứng nghiêm như duyệt binh, mồ hôi nhễ nhại nhưng tuyệt nhiên không ai dám nhúc nhích. Những tà áo dài mỏng dính bết chặt vào người, phô ra tất cả những gì lẽ ra phải kín đáo; cái vẻ thanh tao biến mất, chỉ còn sự bẽ bàng phơi ra dưới cái nắng rát ràn rạt.
Cái uy của ông Tiết lớn đến vậy là nhờ cái mác “luân chuyển” đầy vị thế. Vốn là Bí thư một tỉnh miền xuôi, ông được điều động lên vùng biên viễn theo chủ trương của cấp trên. Giữa chốn cao nguyên đá gập ghềnh, nơi cảnh sắc “khỉ ho cò gáy” và đường sá cách trở muôn trùng, ông thực thi phương châm “người lạ phải bắt đất lạ thành quen” bằng chính cái chất văn nghệ sẵn có. Ông biến thơ ca thành vũ khí thu phục nhân tâm: cứ đến mỗi huyện, ông lại phóng bút tặng một bài thơ để địa phương tức tốc phổ nhạc thành bài “huyện ca” truyền thống. Huyện Gò Vai cũng không ngoại lệ, được ông ưu ái ban cho bài “Chiều Tây Gò Vai”.
Tiếng còi xe dẫn đường inh ỏi rồi khựng lại ngay ngoài đường cái lớn, đúng theo “kế hoạch” ông Tiết đã vẽ sẵn trong bụng. Ông bước xuống, cái bụng phệ khệnh khạng dẫn xác đi trước, mặt hất ngược lên tận trời xanh, hai tay vung vẩy theo nhịp bước như lính tập chỉnh đốn đội ngũ; bộ dạng ông cố ra oai tựa một ngôi sao ca nhạc vừa xong sô diễn, sấn xuống giữa đám “người hâm mộ” để ban phát nụ cười cùng vài cái bắt tay cho đám đông được “hưởng tí sung sướng”. Ánh mắt ông quét qua đội hình “bảy sắc cầu vồng”, rồi dừng lại thưởng thức những “vùng bánh kẹo” đầy đặn, thây lẩy mà ông vẫn gọi vui là đội thời trang “bổ mắt”.
Thế nhưng, ngay khoảnh khắc ông chuẩn bị bắt tay gã chủ tịch huyện đang khom lưng chờ sẵn, một sự cố “ngoài kịch bản” đã xảy ra. Một cô nhân viên trẻ - phần vì nắng gắt đến xây xẩm, phần vì quá đỗi xúc động khi được diện kiến ông ở khoảng cách gần, lại thêm đôi giày cao gót mượn tạm chật ních - bỗng loạng choạng rồi ngã nhào về phía trước. Theo bản năng, cô quờ quạng tìm điểm tựa. Trớ trêu thay, thứ duy nhất cô vớ được lại chính là chiếc thắt lưng da cá sấu nổi vân bóng lộn của ông.
“Phựt!” - một tiếng “phựt” khô khốc vang lên giữa không gian đang im phăng phắc, nghe còn đanh gọn hơn cả tiếng bật nút sâm-panh. Chiếc thắt lưng vốn đã gồng mình chịu đựng cái bụng vĩ đại từ sáng, nay gặp cú giật bất ngờ, hàng răng cưa không còn bấu víu nổi vào lẫy khóa mà trượt tuột ra, chính thức “đầu hàng số phận”. Chiếc quần tây hàng hiệu phẳng phiu, dưới sức kéo mạnh cộng thêm sự “phản chủ” của cái bụng thùng phi, cứ thế từ từ trôi xuống... Hàng trăm cặp mắt đồng loạt đóng băng trước một cảnh tượng không thể nào trớ trêu hơn. Giữa lúc ấy, dàn ca sĩ “hát mồm” bắt đầu rướn giọng bài “Chiều Tây Gò Vai”, cùng lúc hệ thống loa truyền thanh cũng đồng loạt réo lên bản thu âm bài hát của ông với âm lượng cực đại. Khổ nỗi, tiếng trên loa thì dồn dập như một khúc quân hành, còn dàn ca sĩ dưới sân lại rên rỉ theo lối trữ tình. Hai luồng âm thanh đâm sầm vào nhau chát chúa, nghe loảng xoảng chẳng khác nào hai cái chợ đang cãi nhau vung xích chó.
Cái sự “tươi mắt” và bát nháo ngoài cổng mới chỉ là màn khai vị. Thứ khiến giới chức huyện thực sự “mất ăn mất ngủ” lại nằm ở mâm cơm tiếp đón sau đó. Đến huyện nào ông Tiết cũng vỗ vai cấp dưới, giọng đầy vẻ thân tình: “Mình sống đơn giản thôi mà, bát tiết canh ngan với chén rượu ngô của đồng bào là quý rồi, bày vẽ sơn hào hải vị làm gì cho dân người ta dị nghị!”
Sự “đơn giản” của ông mới thật đáng bàn. Thịt ngan phải là loại ngan dé thả vườn, nuôi hoàn toàn bằng cháo ngô nếp nù bao tử - loại ngô hạt trắng xen hạt vàng, hạt tím trồng trên những hốc đá ở các bản quanh vùng chợ “Dải Tình Vá Vai”. Lông cánh phải mượt, nặng chưa đầy hai cân, thịt thơm mà không bã, mỡ chưa kết lá trong ổ bụng.
Khổ nhất là khâu hãm tiết. Ông Tiết có cái lưỡi thưởng thức tiết canh đã thuộc hàng... “động vật thành tinh”. Tiết canh hơi đậm muối một chút là ông nhăn mặt: “Thế này là đầu độc Bí thư à?”. Mà đánh nhạt thì tiết không thể nào đông được. Mỗi lần ông về, gã đầu bếp giỏi nhất huyện phải huy động cả chục con ngan dự phòng, đánh đi đánh lại, thử tới thử lui. Đến khi nào bát tiết canh đông sánh như thạch, rực lên một màu đỏ tươi bắt mắt, bề mặt phẳng lì không một vết gợn “mây đen” thì mới dám bưng lên mời ông thưởng thức.
Còn rượu ngô, không phải cứ ra chợ mua đã là rượu. Phải là thứ rượu thẩu chíu (rượu nước đầu) được nấu bằng loại ngô màu tím (giống ngô truyền thống của đồng bào H’mông), ủ bằng men lá và nhất định phải là rượu ngô Há Ía (rượu ngô Há Ía nổi tiếng thơm ngon vì được nấu bằng thứ nước lấy từ mó nước tại thôn Há Ía). Cũng giống như bia Hà Nội, phải dùng nguồn nước ở làng Vạn Phúc (nay là 183 Hoàng Hoa Thám) mới đúng vị bia Hà Nội. Nấu bằng nước nơi khác thì chẳng khác gì bia cỏ nấu lò thủ công. Rượu ngô rót ra phải kết tăm li ti, bám chặt lấy thành chén nửa phút sau mới chịu tan. Khi thưởng thức, rượu có vị thơm ngọt nhẹ của men lá quyện cùng cái cay nồng của rượu thẩu chíu lan tỏa khắp khoang miệng, khiến người uống cảm được cả mùi gió, mùi nắng, mùi đá cao nguyên. Đặc sản ấy dù có uống quá chén cũng không gây váng đầu nhức óc, lúc tỉnh dậy người vẫn nhẹ tênh tênh, cảm giác lâng lâng như vừa du lịch cõi tiên bồng về.
Trước ngày ông Tiết về cả tuần, huyện phải cử một tổ ba người, dành hẳn cho họ chiếc xe bán tải để đi tìm nguồn thực phẩm. Người bò rạp trên vách đá, kẻ lội suối băng đèo, lùng sục vào tận lò rượu danh tiếng nhất - thứ rượu mà ông từng ban lời khen một lần vào năm ngoái.
Nhìn cách ông Tiết rung đùi húp sùm sụp bát tiết canh, tay lắc lư chén rượu ngô để “xem” tăm rồi gật gù khen bữa cơm “dân dã, tiết kiệm”, gã Chánh văn phòng khẽ đưa tay quẹt mồ hôi hột trên trán. Gã nhẩm tính, bữa cơm “tiết kiệm” này bằng mấy tấn ngô của những người dân vừa hứng trận lũ ống, lũ quét trôi nương, chìm ruộng. Mùa đông, đồng bào còn được “ông anh bốn tốt” bên kia biên giới “tặng” cho đủ thứ “rét ngọt”, “rét bùi”; ba ngày mưa dầm, bảy ngày rét hại, nhưng đồng bào vẫn cứ... vui như Tết! Nên các ông mới tưởng... họ là ngan... để đem ra đánh tiết canh suốt!
Xung quanh ông Tiết luôn có một đội ngũ “vệ binh” thiện xạ trong việc nắm bắt tâm lý. Kẻ cầm đầu “biệt đội” này không ai khác chính là lão Chánh - người có khả năng đọc được mọi ý nghĩ trong đầu ông Bí thư chỉ qua một cái nhíu mày. Khi ông Tiết bưng bát tiết canh lên, chưa kịp nếm, lão đã vội xuýt xoa:
- Báo cáo anh, tiết canh này chúng em phải chờ đúng giờ “hoàng đạo” mới cắt tiết ngan. Nhìn bát tiết đỏ đẹp thế này là biết vận khí tỉnh nhà đang thời kỳ đại cát, đúng như tầm nhìn chiến lược của anh!
Đến khi ông Tiết nhấp chén rượu ngô, khà lên một tiếng đầy thỏa mãn, tay Phó Chủ tịch huyện - vốn nổi tiếng là “thần rượu” cũng chỉ dám nhấp môi, nhìn chén rượu như báu vật rồi “đò đưa cưa kéo”:
- Rượu mang linh khí đại ngàn, nhưng cái hay nhất là gặp được người có tâm có đức, yêu bản thương dân như anh. Được anh uống cho thì nhân dân cũng mát lòng mát dạ. Người khác uống vào là say đảo đất nghiêng trời, riêng anh uống vào lại thêm minh mẫn để lãnh đạo tỉnh nhà bay cao, bay xa vượt đỉnh cột cờ Long Cổ (*) suốt ngày đêm phất phới luôn!
Đỉnh cao của sự nịnh hót là khi ông Tiết lỡ tay làm rơi một miếng thịt ngan xuống sàn. Cả bàn tiệc bỗng lặng ngắt như đang mặc niệm. Trong khi ông Tiết còn “đơ máy tính” vì sự vô ý của mình, thì tay Chánh văn phòng đã nhanh như cắt đảo đầu đũa gắp miếng thịt lên, vừa cung kính vừa reo khẽ:
- Ôi, lộc của núi rừng! Miếng lộc này rơi đúng hướng Đông Nam, theo phong thủy là điềm báo anh sắp được Trung ương nhấc lên vị trí cao hơn nữa đến nơi. Rồi hắn đút tót miếng thịt vào mồm mình!
Ông Tiết nghe thế, cái bụng phệ rung lên bần bật vì cười. Ông sướng đến mức quên cả chuyện mất vệ sinh, tay vỗ đùi đôm đốp:
- Các chú chỉ được cái... hiểu ý anh!
Đám nịnh thần kẻ tung người hứng, nhịp nhàng như một phường giả dối. Chúng không chỉ dùng lời lẽ xu nịnh, mà còn biểu lộ qua vóc dáng khom lưng uốn gối cùng ánh mắt kính ngưỡng ngụy tạo. Sở thích quái gở của Tiết nghiễm nhiên biến thành một thứ “tôn giáo” mà cả huyện là tín đồ: kẻ cầm dùi gõ mõ, người chực sẵn đánh chuông, đồng thanh tấu lên khúc nhạc tâng bốc hắn lên tận mây xanh.
Việc ăn đã kỳ công, nhưng giấc ngủ của Tiết mới thực là một “công trình nghệ thuật” để hành xác cấp dưới. Tiết luôn miệng rao giảng đạo đức: “Tôi đi cơ sở là để gần dân, không cần khách sạn hạng bốn sao, năm sao cho tốn phí. Cứ cho tôi một phòng thanh tịnh ngay trong nhà khách huyện là được.”
Nhưng cái sự “thanh tịnh” ấy lại là một nỗi ám ảnh kinh hoàng. Đầu tiên là cái giường. Vì chứng đau lưng kinh niên - cái chứng đau lưng của hạng người ngồi ghế bọc da quá nhiều - nên đệm của ông không được quá mềm vì sợ lún, nhưng tuyệt đối không được quá cứng vì sợ chạm vào các khớp xương quý tộc. Thế là, gã Chánh phải lùng bằng được loại đệm bông ép của hãng bông danh tiếng, rồi bọc thêm lớp chiếu điều hòa dệt thủ công tận Nam Bộ gửi ra, để lưng Bí thư luôn mát mà không bị nhiễm lạnh.
Nhất là khoản “âm thanh và ánh sáng”. Tiết chỉ ngủ được trong không gian tối đặc trưng với ánh đèn ngủ vàng nhạt đúng tông “hoàng hôn trên biển”. Rèm cửa phải là loại vải ba lớp dày cộp, không để một tia sáng nào lọt qua, vì theo lời tay thư ký riêng: “Bí thư mà mất ngủ là ngày mai cả tỉnh mất phương hướng”.
Và cái “thanh tịnh” của Tiết là tuyệt đối không được có tiếng động. Đêm đó, cả khu vực nhà khách bỗng chốc trở thành “vùng tĩnh lặng”. Đám bảo vệ phải đi chân đất, không dám ho một tiếng. Thậm chí, gã Chủ tịch huyện còn phải ra lệnh cho công an xã đi “vận động” dân quanh vùng dẹp sạch... mấy con chó hay sủa hóng ban đêm. Cả dàn điều hòa phải được bảo trì trước đó cả tuần; cục nóng không được phép rung, hễ kêu “rè rè” là tay thợ điện xác định mất việc. Đúng là một giấc ngủ “gần dân” theo phong cách vương giả!
Đỉnh điểm của sự lố lăng chính là giai thoại về “thủy khí” - thứ “khí của nước” theo quan niệm “Sơn quản nhân đinh, Thủy quản tài”. Nghe lời thầy phong thủy phán mình mệnh Thủy, ngủ phải có tiếng nước róc rách bên tai mới mong “tụ tài, tấn lộc”, lão liền hành đám nhân viên hì hục cả ngày trời xây cái tiểu cảnh tuần hoàn mini sát cửa sổ. Tiếng nước chảy phải đạt chuẩn khắt khe: vừa đều, vừa thanh, lại tuyệt đối không được bắn ra ngoài dù chỉ một giọt.
Nhìn cảnh mấy ông quan chức huyện, bụng cũng to chẳng kém gì sếp, mà phải rón rén đứng canh ngoài hành lang, tay lăm lăm vợt điện sẵn sàng nghênh chiến với bất cứ con muỗi nào bén mảng đến cửa phòng Bí thư, người ta không biết nên cười hay nên mếu. Bên trong, ông Tiết say sưa nồng nàn sau bữa tiết canh và rượu ngô. Tiếng ngáy quyền lực của ông vang lên pho pho, làm rung rinh cả mấy cây trầu bà xanh trang trí trong phòng, để mặc ngoài kia cả một bộ máy đang nín thở chờ ông thức giấc.
Sáng hôm sau, ông Tiết vươn vai thức dậy trong tiếng suối nhân tạo róc rách. Sau bữa điểm tâm “nhẹ nhàng” với tô gà đen tần thuốc bắc - đủ vị: hạt sen, long nhãn, ngọc trúc, ý dĩ, bạch quả, ngải cứu hầm nước dừa tươi ngon lành - ông mới lững thững bước ra sân, nơi chiếc xe biển xanh đã nổ máy chờ sẵn.
Nhưng ông chưa lên xe ngay. Ông đứng lại ở sảnh, tay chắp sau lưng, mắt lim dim nhìn trời đất như thể lưu luyến mảnh đất địa đầu này lắm. Một chiếc hòm gỗ đóng đai chắc chắn đang được khiêng ra. Theo lời Chủ tịch huyện, đó là những “đặc sản nhà trồng được”, chút tấm lòng của bà con vùng sâu vùng xa, nơi chó nhai đá gà xơi sỏi bên cạnh những thằng dân hiền lành tốt bụng.
Đầu tiên là hai hũ mật ong bạc hà thượng hạng, mỗi hũ năm lít sóng sánh sắc vàng chanh hòa cùng ánh xanh ô liu - thứ được mệnh danh là “vàng lỏng” của cao nguyên đá. Nhưng gây choáng ngợp nhất phải kể đến chiếc hộp mica trong suốt đặt trang trọng bên cạnh. Bên trong là một cái túi màu nâu thẫm, nhăn nheo, dúm dó - túi mật gấu thật một trăm phần trăm. Để có được túi mật khô này, đám cấp dưới đã phải bí mật lặn lội sang tận bên kia biên giới, bởi chỉ nơi ấy mới sẵn nguồn “mật gấu Phi Châu” nhằm phục vụ cho giới thượng lưu bên đó.
Ông Tiết nhìn hai hũ mật ong và hộp mật gấu, mặt tỉnh bơ nhưng tay lại vê vê sợi lông “lộc” mọc giữa cái nốt ruồi son dưới cằm nhẵn nhụi. Rồi ông gật gù:
- Các chú vẽ chuyện, tớ đã bảo là không quà cáp gì cơ mà. Nhưng thôi, bà con đã có tấm lòng thì mình cũng không nỡ chối từ. Mật ong để cả nhà tớ pha nước chanh thải độc mỗi sáng. Còn mật gấu... để bà xã tớ ngâm rượu xoa bóp nếu đi khiêu vũ có chẳng may bầm chân tím da, chứ tớ thì cần gì!
Tiếp đến là những bánh cao khỉ, cao gấu, cao trăn được gói ghém cẩn thận trong giấy bản. Tay Chánh văn phòng rỉ tai đầy vẻ nịnh bợ:
- Báo cáo anh, bà con dân bản xin biếu anh chút “tình rừng nghĩa núi” cho các quý tử. Đây là cao trăn toàn tính hàng “đặc biệt”, được tinh luyện từ ổ trăn chuyên ăn dơi chúa, chồn vương, bọ cạp nữ hoàng đã tu luyện thành tinh trong hang đá mấy trăm năm. Các cháu bồi bổ thứ này, sẽ hoạt bát năng động, thông minh đúng chuẩn gen con dòng cháu giống nhà mình!?
Chưa hết, sau mật và cao là hàng loạt bao tải lỉnh kỉnh: nào nấm hương rừng, thịt bò khô rồi cả một chú lợn mán cắp nách đã được làm sạch trắng hếu, nằm gọn lỏn trong thùng xốp xếp đá lạnh xung quanh và sau cùng không thể thiếu được trong các món quà đặc sản của miền đá Gò Vai là can rượu ngô thẩu chíu Há Ía. Cái cốp xe rộng thênh thang ban đầu giờ bỗng trở nên chật chội vì sức nặng của quà cáp.
Ông Tiết bước lên xe, không quên hạ kính xuống, giơ tay vẫy chào dàn nam thanh nữ tú lại một lần nữa xếp hàng dọc hai bên cổng huyện. Ánh mắt Ông Tiết vẫn lướt nhanh qua những chiếc áo dài mỏng giờ đã hơi nhăn nhúm vì “phơi” nắng đón ông suốt mấy ngày qua.
Xe chuyển bánh, bụi cuốn mù mịt. Tiết ngồi trong xe, nhắm mắt hưởng thụ mùi thơm của đặc sản rừng và vị ngọt lịm của quyền lực. Dưới sân, hai gã Bí thư. Chủ tịch huyện thở phào một cái rõ to, quẹt mồ hôi trán rồi lẩm bẩm với tay kế toán:
- Xong nhé! Ghi hết hóa đơn vào mục “Chi phí hội nghị xúc tiến đầu tư” của huyện và nghĩ thầm trong bụng không khéo là cái ghế khóa tới của mình lại nằm gọn trong mấy hũ mật ong với túi mật gấu ấy chứ chẳng chơi!
Chiếc xe khuất dần, để lại một miền đá tai mèo xào xạc. Xác xơ nghèo vẫn hoàn nghèo như cái khô cằn muôn thưở của đá, chỉ có cái cốp xe của ông Bí thư là đầy ắp “TÌNH DÂN”!
18-5-2015
Hoàng Xuân Hoạ
------------------
(*): Long Cổ (Trống của Vua): Theo lịch sử, từ thời Tây Sơn, sau khi đại phá quân Thanh, vua Quang Trung đã cho đặt một chiếc trống đồng cực lớn tại đỉnh núi này. Cứ mỗi canh giờ, lính biên phòng lại gióng lên ba hồi trống để khẳng định chủ quyền quốc gia. Người dân địa phương từ đó gọi đỉnh núi và cột cờ là Long Cổ (chữ “Long” nghĩa là vua, “Cổ” nghĩa là trống.
Comments
Post a Comment