Chuyện Mậu Thân - Lê Thị Thấm Vân

Không có mô tả ảnh.

 

Thằng nhỏ mặc áo nói, 'Tết Mậu Thân là do bọn Mỹ thả bom làm chết bao thường dân Huế rồi đổ thừa cho người Cộng Sản miền Bắc.'
Thằng nhỏ không mặc áo nói, 'Nếu bom Mỹ thả xuống thì tất cả thi thể đã bị nát bét hết rồi chứ đâu mà dây nhợ trói tay họ vẫn còn hả mi?'
 
***
 
Thời tiết liên tục thay đổi thất thường. Hôm trời mưa lạnh thấu xương, hôm sau lại nắng nóng hầm hập. Thân nhân đi đào bới các mồ chôn tập thể moi tìm xác nạn nhân nhưng lòng thấp thỏm mong người thân đã lanh tay lẹ chân trốn thoát. Giữa cánh đồng cát trắng bỗng xuất hiện vũng cỏ xanh rì thì mắt mọi người đổ dồn vào đó, phải đào ngay, biết đâu chừng đó là mồ chôn tập thể.
Thế là cả đám hì hục đào.
Mà đoán đúng thật, chỉ hơn nửa giờ sau, trước mắt họ là một đống xương người trong mọi tư thế: đứng, nằm, ngồi hoặc đang rơi. Rồi nào tóc, móng tay móng chân hổ lốn. Rồi xương cổ tay cột dính chùm bằng sợi dây điện thoại cứng chắc made in USA. Có sọ bị lủng một lỗ to do cuốc hay xẻng phang vào đầu. Có sọ bị lủng lỗ nhỏ do súng bắn.
 
 
***
 
 
Một đám người bị dẫn ra từ trong bóng tối. Mắt và tay bị trói quặt ra sau bằng sợi dây điện thoại. Cái hố đào sẵn chứa đủ cho bảy tám mạng. Tất cả đứng xoay lưng về cái hố.
Chị ôm chặt hai con vào lòng. Một đứa bốn tuổi, một đứa tám tháng. Một trong ba tên doạ chị nếu la lối um xùm thì họ sẽ đưa thằng con bốn tuổi đi theo ba hắn. Chị nghe, hoảng sợ, đành kìm tiếng nấc vào bên trong, đưa mắt nhìn theo chồng chị bị ba tên lạ mặt áp đảo lôi ra khỏi cửa.
Chúng ập vào nhà lúc quá nửa đêm, nhang trên bàn thờ ông bà đã lụi tàn, nhưng mùi nhang và bánh tét vẫn còn phảng phất quanh nhà. Ngoài đường ánh đèn chập chờn ma quái. Tiếng quát tháo vang vọng khắp ngõ trong tiếng súng lẫn pháo nổ đì đùng. Người chồng chân tay run rẩy nhưng cố giữ bình tĩnh để trấn an vợ. Ánh mắt anh toát nỗi kinh hãi. Anh sợ có thể không bao giờ trở về lại căn nhà này nữa. Người hàng xóm ở đối diện cũng đang bị lôi ra khỏi nhà, hai khuỷu tay bị trói giật phía sau lưng, ánh mắt cũng kinh hãi như mắt chồng chị, cũng không thể nói lời từ biệt với vợ con lần cuối. Chị nghe tiếng khẩn cầu, tiếng van xin, tiếng thét gào, tiếng trẻ con khóc ré. Nhưng tất cả đều bị đẩy đi như những bóng ma trong đêm tối. Chị sụp người khi cánh cửa đóng sập lại. Tiếng chân bước xa dần. Chị oà lên khóc vì không kìm giữ nổi nữa. Hai đứa nhỏ cũng khóc thét theo. Chị gọi tên chồng, anh ơi, anh ơi, trời ơi...
Chị không biết chuyện gì vừa xảy ra. Sao họ bắt chồng chị đi mà không có lời giải thích, và chỉ xảy ra trong chớp nhoáng. Chúng gõ cửa, anh ra mở, hỏi đúng tên anh, thế là chúng ra lệnh bắt anh đi. Anh vừa mở miệng hỏi tại sao bắt anh đi thì đầu báng súng đã dí vào mồm anh, ra dấu không cho hỏi. Anh chỉ kịp lấy cái áo khoác đang mắc trên tường. Chị vội lấy đôi dép nhựa anh hay mang trong nhà cho anh xỏ vào.
Khóc một hồi thì chị cố lấy lại bình tĩnh bằng cách đi đến bàn thờ ông bà, thắp nhang cầu khẩn có phép nhiệm màu đưa chồng chị trở về. Nhưng bằng trực giác, chị biết điều đó không khả thể. Khuôn mặt cả ba người đàn ông tỏ ra hung dữ, quyết liệt, có tính toán hẳn hoi. Chúng không thuộc phe quốc gia, phe chồng chị, là viên trung uý tình báo.
 
 
***
 
 
Tiếng pháo giao thừa không nổ vang mà thay vào đó là tiếng súng nổ như xé toạc không gian Huế trầm mặc cổ kính. Màn sương đêm mờ mờ ảo ảo bao phủ khu Gia Hội. Những người đàn ông bị bắt chia thành từng nhóm. Không ai có thể nhìn rõ khuôn mặt họ lúc đó thế nào. Có những người bị lôi đi không kịp xỏ dép. Chân trần họ dẫm trên sỏi đá dọc đường. Họ phải câm mồm nếu không sẽ lãnh ngay viên đạn. Vài người chống cự đã bị báng súng phang vào đầu, máu từ trán rịn ra, nhỏ xuống đỏ như màu xác pháo.
Chị vẫn ôm chặt hai đứa con vào lòng. Đôi tay run rẩy cố che chở con, che chở mình, nhưng không che nổi ánh mắt trống rỗng của đứa con vừa lên bốn đã mơ hồ hiểu rằng đây không phải trò chơi trốn tìm.
Chị xát mạnh xuống đất bằng đôi tay chai sạn của mình. Đêm qua ngồi trước bàn thờ nhỏ, chị cẩn thận châm nén nhang. Khói bay lên, mỏng như hơi thở cuối cùng của anh phả vào mặt chị.
Trong tai chị vẫn còn nghe tiếng súng nổ xuyên qua bức tường mỏng của căn nhà. Tiếng chân chạy, tiếng gọi nhau ơi ới lẫn trong tiếng khóc, tiếng gào thét. Cả đời chị không quên được tiếng báng súng đập vào cửa, tiếng người đàn ông xa lạ. Rồi anh bị lôi đi với ánh mắt thất thần, không kịp nói lời nào. Ở giữa là khoảng trống mở ra, như cái hố ai đó đã đào sẵn.
Mảnh đất đầy cỏ xanh dại. Chị cúi xuống, tay chạm vào lớp đất cứng. Chị không có cuốc mà chỉ có đôi tay và lòng kiên nhẫn không biết mình đã nuôi dưỡng từ khi nào. Đất cứng nhưng tay chị cứng hơn. Thi hài anh chôn dưới đất không có quan tài nên quá trình phân rữa nhanh không thua cơn gió thổi. Côn trùng, rắn rít, ốc sên đã được bữa tiệc no nê. Chúng còn nhâm nhi luôn tóc, móng và răng của anh. Chỉ xương là chúng chưa gặm nát.
Mỗi nhúm đất bới lên, chị tưởng tượng mình gỡ từng lớp ký ức. Nhớ những ngày anh được về nhà nghỉ phép, quần áo còn mùi súng đạn, anh kéo chị vào lòng, nói, 'Em bớt lo, đừng sợ, anh đây, có anh đây.'
Tay chị chạm vào thứ gì đó. Cứng, lạnh. Xương người. Chị ngừng lại, đôi mắt nhắm nghiền, như sợ mở ra sẽ thấy điều gì chị không chịu đựng nổi. Nhưng khi chị mở mắt, đó là giấc mơ.
Một mảnh sọ. Một khúc xương tay. Một chiếc dép gãy đôi. Chị không biết cái nào là của anh, cái nào là của ai đó. Trong hố chôn này, tất cả đều là của anh. Chị không khóc. Nước mắt là thứ xa xỉ ngay lúc này.
Chị ngồi tỉ mẩn lặt lượm những mẩu xương bỏ vào chiếc khăn trắng đem theo. Chị không biết anh có ở đây không. Nhưng điều đó không quan trọng. Anh đã bị vùi lấp trong đất, như anh cũng là đất, là mùi cỏ cháy, là tiếng gió thổi qua cánh đồng chiều tà.
Trời tối sụp, chị lấp đất lại. Không phải chôn người, mà để chôn chính nỗi đớn đau của mình.
Trên đường về, chị ôm chặt chiếc khăn trắng vào lòng. Đứa con gái coi chừng em đang chờ chị ở nhà. Chị cố nghĩ đến cách kể con nghe câu chuyện chị vừa tìm gặp được ba chúng giữa những gì tưởng đã bị chôn vùi.
Chị bỏ chiếc khăn trắng giữa hai đùi, đưa tay búi lại mái tóc.
 
***
 
Khi cả đám bị lùa ra gần đến bờ sông, cộng quân Bắc Việt và bọn du kích không ai nói với nhau lời nào. Chúng đẩy những người bị bắt giãn ra thành hàng dài, cách nhau bằng sải chân. Cả đám đều bị bịt mắt. Tay trói chặt ở phía sau. Miệng nhét mảnh vải xé ra từ ống tay áo họ đang mặc. Một tiếng hô to khô khốc vang lên, và rồi, từng tiếng súng nổ, đều đặn như nhịp thời gian chia ly bi thảm. Một thanh niên ngã xuống trước tiên, trong túi còn giữ lá thư của người tình và bài thơ anh đang làm dở dang. Tiếng súng thứ hai nổ, rồi tiếng nổ thứ ba, thứ tư... đến tiếng thứ chín thì ngưng. Ngưng ngang cuộc đời của chín mạng người bỗng chốc biến thành chín oan hồn muôn đời không thể siêu thoát.
Xác chín người chất đống bên dòng sông. Dòng sông nước chảy xiết. Những vũng máu tươi bám trên đất mãi là minh chứng cho đêm Tết Mậu Thân 68 thảm khốc giữa lòng phố Huế.
 
 
***
 
Buổi chiều bầu trời Huế phủ màu chì, mặt sông Hương nhấp nhô. Con phố cũ, mái nhà rêu phong ám mùi ẩm mốc hoà lẫn với lịch sử giờ đây đẫm máu cùng nước mắt. Lịch sử nào phải dòng sông chảy, mà là cái đầm lầy, nơi tất cả bị nhấn chìm, cái chết không tan, chỉ hình hài đổi thay.
 
 
***
 
 
Ông đưa chúng tôi đến cánh đồng không xa thành phố, nơi chiếc hố chôn tập thể bị thời gian lấp kín. Chúng tôi không nói gì nhiều, vì tất cả đều hiểu trong sự im lặng. Ông khoảng ngoài bốn mươi, khuôn mặt rám nắng, đôi mắt đục mờ. Ông đưa cán cuốc chỉ xuống đất, rồi nói, giọng chắc nịch, 'Ở đây, tôi nhớ ở đây.' Tôi đứng đối diện ông, quanh tôi trên dưới chục người, trong tay ai cũng cầm xẻng, cuốc. Mặt đất dưới chân tôi bằng phẳng, khô rang. Nơi đây, cha tôi đã nằm cùng những người khác. Cha tôi không có mộ, không có bia, không có hương khói. Tất cả những gì tôi biết là câu chuyện được kể lại qua giọng thì thầm của mạ tôi.
Chúng tôi bắt đầu đào.
Lưỡi cuốc chạm vào đất, khốc khô như ký ức của tôi về cha. Tôi không biết nhiều về cha. Ông thường vắng nhà. Tôi chỉ nhớ dáng người ông trung bình nhưng có hai bàn tay rất to và khuôn mặt nghiêm nghị. Tôi nhớ có lần trong bữa ăn tối ông nói điều gì đó về công lý, về lẽ phải. Khoảnh khắc cuối cùng, khi họ đến nhà bắt ông đi, tôi đang ngồi nắm chặt bàn tay yếu ớt của bà nội trên tấm phản đặt trong nhà bếp.
Tiếng cuốc vang lên đều đặn. Tôi không ngưng tay dù hai bàn tay phồng rộp, tướm máu. Dưới lớp đất vàng, nâu là màu khác, xanh đục, màu của chết chóc. Mùi hôi thối bắt đầu bốc, buộc tôi phải dừng lại, thở hắt một cái thật mạnh.
Những lóng xương, mảnh quần áo lẫn lộn hiện bày ra trước mắt. Không ai có thể nhận ra ai trong đống hổ lốn này. Tôi không biết cha tôi ở đâu. Có thể là cái sọ kia. Có thể là lóng xương này. Hoặc có thể không phải.
Tôi cởi áo, lượm từng lóng xương lên, lau sạch bụi đất. Tôi không biết mình đang làm gì. Đây có phải cha tôi không? Có phải tôi đang tìm lại cha tôi hay tôi tìm lại một phần của chính tôi. Phần mà tôi đã mất đi cùng với ông.
Ông dẫn đường nhìn chúng tôi với ánh mắt buồn thê thiết. Ông nói, giọng khàn đục, 'Người chết thì đã chết rồi, người sống mới là người khổ.' Không ai nói năng gì vì ông dẫn đường nói đúng, nhưng tôi nghĩ đúng nhưng chưa đủ. Cái chết của những người chôn trong hố này sẽ không bao giờ kết thúc. Chúng tiếp tục sống trong lòng người sống, như vết thương không bao giờ thành sẹo, như tiếng vọng không thể bị dập tắt.
Trời sẫm tối. Tôi đứng dậy nhìn hai cánh tay mình rũ xuống, mảnh đất không còn phẳng lặng như trước. Mọi thứ đã khác.
Tôi không tìm thấy cha, nhưng tôi tìm thấy tôi trong cái hố sâu mà lịch sử đã cố tình nhấn chìm.
---
 
Lê Thị Thấm Vân 
(trích 31 phút)

Comments

Popular posts from this blog

Bài trăm năm - Trần Yên Hòa

Truyện cực ngắn - Mã Lam

Mẹ đi về phía hoàng hôn - Trần Yên Hòa