Bà Tư Rượu. - Tiểu Lục Thần Phong

 Cận ngày 8/3, bức ảnh về tình bạn của các chiến hữu cụ bà thật khiến người ta thích thú

 

Sau khi quất nửa xị đế ở quán bà Bảy Ròm, Bà Tư Rau ra về với dáng điệu hơi lâng lâng, gò má ửng đỏ. Tuy ngoài bảy mươi, làn da có nhăn nheo nhưng nước da bà Tư trắng như trứng gà bóc, có lẽ thời con gái bà Tư rất đẹp. Người xóm chợ Bà Bâu chẳng còn ai nhớ tên thật của bà, họ chỉ kêu bằng cái tên ghép, khi là bà Tư Rau, lúc bà Tư Rượu. Bà Tư bán rau sống ngoài chợ Bà Bâu, tiền bạc hổng bao nhiêu, cơm nước bữa có bữa không nhưng rượu thì cứ ngày ba cữ.\

<!>

Ngôi nhà nhỏ cũ kỹ của bà Tư nằm ngoài rìa chợ, tuy nghèo nàn thiếu thốn nhưng là cái chỗ an toàn cho bà trú mưa tránh nắng mấy chục năm nay. Bà sống côi cút một mình không con cái họ hàng. Thế rồi chồng bà đi tập kết trở về, ông ấy đem theo một bà vợ ngoài ấy nữa. Bà Tư chới với…Nỗi đau cô độc mấy mươi năm chờ đợi những tưởng được đền đáp lại chút ân tình cuối đời, nào ngờ sự thật lại phũ phàng và cay đắng đến tận cùng. Ông Tư trở về lại là nỗi tai họa cho quãng đời còn lại của bà. Ông Tư và bà vợ mới ngày nào cũng đánh đập mắng chửi bà Tư. Đỉnh điểm ngược đãi là lúc hai người ấy hốt quần áo bà Tư quăng ra đường, đuổi bà Tư ra khỏi căn nhà của bà. Bà Tư già yếu cô thân đành nhặt nhạnh mớ đồ đạc ít ỏi ấy lủi thủi đi về hướng đình Vân Hội. Mé phải đình có cái chuồng heo của nhà ông Năm Tình bỏ không. Nguyên do có cái chuồng heo này là khi ông Năm Tình cất nhà còn dư gạch táp lô nên xây lấn trên đất đình rồi bỏ đấy chứ chưa nuôi heo ngày nào. Bà Tư đến đó nương thân, tường chuồng heo cao cả thước, may có cái cột sắt ấp chiến lược kế bên nên bà Tư có chỗ bám để leo ra leo vào. Ông Năm Tình thấy hoàn cảnh của bà nên thương tình mà cho ở chứ không nỡ đuổi.

Buổi sáng bà Tư đến vựa rau Bảy Phú mua một mớ rau rồi đem ra chợ Bà Bâu trải tấm nhựa xuống đất để bán rau. Mớ rau trộn đủ thứ nào là: xà lách, cải non, rau diếp, tía tô, hành, ngò, giá…Các loại rau ngắt khúc ngắn trộn lẫn với nhau, đây là món rau sống mà người dân quanh vùng thích ăn. Đời có những lúc nghiệt ngã lắm, mớ rau rẻ rề, lời lãi vài đồng bạc, ấy vậy mà người mua còn kì kèo trả giá, mua xong còn thò tay hốt thêm một nắm rau, nếu không thì cũng xỉa trái ớt, móc tép hành…Bà Tư ca cẩm:

– Ăn thêm chút rau nữa có béo bổ gì hơn chăng? Bổ dọc bổ ngang gì rồi mai kia cũng ra nhị tỳ nằm chơi với giun dế tha hồ ăn rau cỏ. Tui bán mớ rau có mấy đồng kiếm sống qua ngày mà còn ngắt véo thêm chi tội.

Mặc cho bà Tư rên rỉ, người mua vẫn chứng nào tật nấy, dường như mua mà hổng lấy thêm chút rau họ ăn cơm hổng ngon sao ấy!

Đời bà Tư Rau y như mớ rau trộn, cứ mòn mỏi hao hụt dần, mỗi ngày mất mát thêm dù đời bà gần như chẳng còn gì nữa để mất.

Bà Tư bán rau đến chừng mười hai giờ trưa là cuốn tấm mủ lại, mớ rau còn thì dồn vào cái thúng đội đầu đi về chuồng heo. Trước khi về bao giờ bà cũng ghé quán bà Bảy Ròm làm ly đế. Bà có thể không ăn nhưng không thể không uống, thực sự thì từ ngày bà bị đuổi khỏi nhà bà đã nhiều ngày chẳng có gì để ăn.

 Ngồi trong quán bà Bảy Ròm, tay cầm cái ly thủy tinh bằng nắm tay con trẻ, trong ly chứa thứ rượu trong vắt như pha lê mệnh danh là nước mắt quê hương. Rượu này lấy từ lò rượu Bảy Du, Chín Tăng…những lò rượu có tiếng tăm của chợ Bà Bâu, thứ rượu đế nước nhất ngon hết biết luôn, tợp một ngụm nghe lửa bốc lên đầu, cổ họng như xé ra. Người sành điệu thì thích lắm, bọn tay mơ thì chịu hổng nổi. Bà Tư cầm cái ly cứ xoay xoay trong bàn tay, có hôm bà ngồi trầm ngâm chiêu từng ngụm nhỏ tận hưởng cái mùi thơm nồng của rượu, cái vị cay xé lưỡi của men. Cũng có khi bà Tư ngửa cổ đổ cả ly vào họng như thể người ta bưng thau nước đổ vào hang chuột. Trưa nay bà Tư quất xong một ly, nhăn mặt:

– Bà pha rượu nước nhì, nước ba nhiều quá, rượu lạt, không ngon!

Bà Bảy Ròm, chủ quán, cãi:

– Bà cứ nói xàm, pha đâu mà pha, rượu nước nhứt đấy, lấy từ lò Chín Kỉnh.

Bà Tư day mặt lại nhìn bà Bảy rồi le lưỡi ra:

– Bà coi lưỡi tui còn hay không?

– Còn

– Vậy thì bà gạt tui hổng được đâu!

Đến nước này thì bà Bảy cười giả lả:

– Ờ, tui cũng có pha chút chút để bán kiếm lời.

– Bữa sau bà cứ bán rượu nước nhứt cho tui, bà bán giá nào cũng được.

Bà Bảy sẵn dịp nhắc nợ luôn:

– Bà ghi sổ đã ba mươi ly rồi, lo mà trả cho tui, quán tui vốn liếng cũng hổng có bao nhiêu. Ai cũng uống nợ như bà chắc tui sập tiệm.

– Bà cho tui ghi thêm ba ly này nữa, mai tui trả, mấy nay bán ế ẩm quá, rau hư úng hết ráo.

Bà Bảy Ròm ốm tong teo như cây tre sau sân đình, miệng bà nhai trầu bỏm bẻm suốt ngày. Bà Bảy Ròm giàu có, con cháu đông đúc nhưng tánh bà cay nghiệt và đáo để chứ không như bà Tư. Bà Bảy chì chiết:

– Bà ghi nợ nhiều quá, tui cho bà ghi thêm bữa nay thôi! Mai tui dứt khoát không bán chịu nữa.

Bà Tư Rau im lặng, ngồi thẫn thờ, mái tóc bạc lơ phơ trông hắt hiu như sương khói vây trên đầu. Bà Tư Rượu có thể thiếu cơm nhưng không thể thiếu rượu. Đời bà chỉ còn có chút men là niềm vui duy nhất để sống còn. Mỗi ngày ba cữ rượu đế suông là nghi lễ của kẻ mộ đạo. Quán rượu của bà Bảy Ròm là ngôi đền thiêng liêng nhất đời bà. Mớ rau trộn là phép màu vi diệu đủ để cứu bà khỏi phải chết đói cũng như không phải thất lễ rượu bữa nào dù có hôm phải ghi nợ. Người quanh chợ Bà Bâu đôi khi không kêu bà Tư Rau mà kêu là Tư Rượu cũng có lý, tuy nhiên bà mặc kệ. Bà Bốn Sự xì xầm với mấy bà trong chợ:

– Hứ, đàn bà gì mà hư hỏng, ngày nào cũng uống rượu, chồng bỏ là phải rồi!

Bà Hai Đoan xía vô:

– Con mẹ Tư Rượu ấy mà nói làm gì, lúc nào cũng lè nhè như hũ hèm. Đàn ông say rượu còn có thể thông cảm, đằng này đàn bà mà ghiền rượu nên hổng ai ưa.

Bà Ba Bụng trề môi:

– Mà có khấm khá gì, bán rau bữa đực bữa cái, cơm bữa có bữa không, vậy mà ngày nào cũng uống rượu

Bà Tư Rau nghe hết, thấy những cử chỉ trề môi múa mỏ của mấy bà ấy nhưng chẳng hơi đâu phân bua, mặc dù bà Tư nổi tiếng hay nói liệu. Mà kể cũng lạ, thiếu rượu thì nói liệu đã đành, ngay cả khi uống đủ đô cũng nói liệu, người tinh ý sẽ thấy cách nói liệu trong hai thời điểm ấy hoàn toàn khác nhau.

Trưa nay cũng như mọi ngày, sau khi quất mấy ly đế bà Tư kẹp thúng rau đi về phía chuồng heo. Một đám học trò tan trường đang đi sau lưng bà. Chúng nó chỉ chỏ chọc ghẹo bà:

– Bà tử bà Tư/ uống rượu sật sừ/đi như ông địa/ nói liệu nói đía/bảy vía ba hồn/khoai môn rau sống…

Bà Tư quay lại chửi:

– Con bà tụi bay, tao uống rượu ăn rau của tao, nào có ăn gì của cha mẹ bay, tụi bay đúng là nhứt quỷ nhì ma thứ ba học trò.

Bà Tư càng chửi càng kích thích lũ học trò rắn mắt, chúng châm chọc dữ hơn. Thằng Chinh là đứa đầu têu những trò mất dạy, trong lúc tụi kia nói bậy vây quanh bà Tư, nó lẻn phía sau lưng kéo cái thúng khiến mớ rau bán ế đổ hết ra đường. Bà Tư khóc mếu máo, nước mắt ràn rụa trong lúc lũ học trò mất dạy cười giỡn hô hố. Bà Tư lụm cụm vơ hốt lại mớ rau. Thằng Chinh chỉ chỏ:

– Bà Tư say rượu làm đổ thúng rau.

Bà Tư giận quá, cộng với hơi men khiến bà nổi cơn nói liệu:

– Quỷ tha ma bắt/ học trò rắn mắt/cá sặc có bông/con nhồng nói láo/thiện đi ác đáo/ tao bảo mầy hay/ nhân quả có ngày/ chạy đâu khỏi nắng/ súng bắn đạn bay/ người ngay chết tốt/ học dốt làm quan/ áo vàng nón cối…

Bà Tư nói liệu như hát, nói khô cổ họng, bụng đói rã rời, mắt không còn lệ, lầm lũi mang thúng rau leo vào chuồng heo, nơi ẩn trú cuối đời. Ông Chỉn Kỉnh, chủ lò rượu lậu cũng sống gần đấy, thấy bà Tư lụm cụm bám cọc sắt leo vào chuồng heo bèn kích động lũ học trò:

– Tụi bay hốt ổ kiến lửa quăng vô cho bà Tư nhảy múa nói liệu nghe chơi!

Bọn học trò làm thật, kiến lửa đất bụi dính đầy người bà Tư, bà giãy nảy nhảy nhỏm để gạt phủi kiến lửa, miệng không ngớt nói liệu:

– Kiến lửa cắn tao/ tụi nào chơi ác/ khạc máu nhả đờm/ bờm xơm té giếng/ tao chửa có điên/ túi chẳng có tiền/ thần tiên giá đáo/ uống rượu ăn rau/ đời đâu có đó/ chim ó chó ngao/ lòng đao dạ kiếm/ đĩ điếm lên ngôi/ nói lời trinh tiết/ giết người cướp của/ mua ghế ngồi cao/ giảng rao đạo đức…

Nói một hồi kiệt sức, giọng yếu dần, phập phều theo hơi thở vậy mà bên ngoài tụi học trò vẫn không ngớt cười giỡn hết sức mất dạy. Nghe ồn ào, ông Năm Tình từ trong nhà bước ra, thấy sự việc là biết ngay. Ông cũng còn chút từ tâm nên quát:

– Tụi học trò đi về nhà ngay lập tức! tan trường không lo về, tụ tập quậy phá xóm làng. Cha mẹ tụi bay biết là ăn đòn bây giờ!

Bọn  học trò vội vàng tản hết, ông Chín Kỉnh nói với Năm Tình:

– Bà Tư Rau uống rượu say, làm đổ cả thúng rau đây nè!

Năm Tình không ừ hử, cười nhẹ rồi quay vào nhà.

Hôm sau bà Tư ra chợ bán rau, trên mặt và hai cánh tay nhăn nheo đầy những nốt đỏ do kiến cắn. Nhiều người nhìn bà tỏ vẻ ái ngại nhưng chẳng ai hỏi lấy một lời. Bà Tư cũng cẳng buồn nói năng chi, có lẽ trong lòng của bà đã đầy ắp nỗi khổ đau nên chẳng còn chỗ trống để nạp thêm sự khổ đau mới. Bà cô đơn từ hồi ông Tư đi tập kết, tính ra cũng hai mấy năm trời, ngày ông về những tưởng khổ tận cam lai nhưng không! Ngày ông về mới thật sự là đỉnh cao tột bậc của nỗi cô đơn. Mấy mươi năm vẫn thầm hy vọng, vẫn nuôi chút lửa tàn âm ỉ trong tro. Ngày ông về là cơn bão thổi tung cả tro tàn lẫn chút lửa cuối cùng. Từ đó đời bà Tư chỉ còn có những ly rượu đế ở quán bà Bảy Ròm là chỗ bám víu của bà ở thế gian này.

Trời trưa tròn bóng, bà Tư vẫn để đầu trần phất phơ mái tóc bạc trong gió như bao nhiêu năm nay. Không biết là bà không có cái nón nào để đội hay bà chẳng còn cái cảm giác nắng mưa. Cắp thúng rau bên hông liêu xiêu đi đến quán bà Bảy. Bà nói trước:

– Nay tui không uống chịu đâu, tui trả bớt cho bà mười lăm ly, còn mười lăm ly nữa tui sẽ trả trong nay mai thôi! Bà đừng lo, tui đói thật nhưng không giựt nợ!

Bà Bảy cười cầu tài:

– Nay bà vô mánh hả? bán được nhiêu?

– Mánh mung gì bà ơi! Tui nhịn cơm mấy bữa nay đó!

– Vậy bà uống rượu mà không ăn cơm sao? Bụng đói dễ trúng gió!

Bà Tư im lặng, không ăn là chuyện thường trong đời bà. Những hôm bán rau ế thì lấy gì mà ăn? Tài sản bà ngoài mớ rau trộn mua đâu bán đó chưa kể bán ế hư úng và vài bộ quần áo cũ kỹ, vá tùm lum. Bà Bảy động lòng bất chợt bẻ cho trái chuối già. Bà Tư đẩy trả lại:

– Cảm ơn bà, bà bán chịu cho tui vậy là tốt lắm rồi. Tui hổng dám lấy thêm.

Quất ly đế nữa, tiếng kêu cái chụt, đoạn liếm mép  rồi kéo chéo áo chùi đôi môi khô nhăn nheo. Bà Tư rời quán Bà Bảy, bước thấp bước cao lững thững đi về chuồng heo.  Con đường làng giữa trưa nắng bụi đất ùn lên, nhà cửa hai bên đã khép lại để ngủ trưa…

**

Một ngày kia người xóm chợ Bà Bâu không thấy bà Tư Rau ra chợ bán. Bà Bốn Hoan nói trổng trơ:

– Hổng chừng bả say rượu hay bị bịnh rồi?

Ông Chín Kỉnh tưng tửng:

– Chắc bà Bảy Ròm không bán rượu chịu nữa nên bà Tư nằm bẹp trong chuồng heo.

Người ta cười cợt và đặt ra nhiều giả thuyết này nọ. Cả đám đoán già đoán non lấy đó làm vui, thỉnh thoảng lại cười rần rật rồi thêm mắm dặm muối cho câu chuyện Bà Tư thêm phần ly kỳ. Chuyện không biết khi nào mới hết nếu không có ông Năm Tình la toáng lên:

– Bà Tư Rau chết queo rồi! chết cứng trong chuồng heo nhà tui!

Nghe thế người xóm chợ lập tức bu đen bu đỏ lại coi, trẻ có, già có, nam có, nữ có…chen lấn để coi bà Tư chết ra sao đặng tám với người ta. Trong đám bu lại coi đó, có kẻ biết chuyện Bà Tư nợ rượu. Kẻ ấy nhiều chuyện:

– Hổng biết bà Tư trả hết nợ rượu quán bà Bảy Ròm chưa ta?

Ông Chín Kỉnh, chủ lò rượu nghe vậy liền nói:

– Hôm qua tui bỏ rượu cho quán bà Bảy, bà ấy nói bà Tư trả hết tiền rượu nợ rồi! Tui hổng biết Bà Tư lấy đâu ra tiền mà trả nợ?

Mặc cho đám người hiếu kỳ bàn tán nói đía. Xác bà Tư Rau khô đét quắt queo co quắp lại như con mắm mòi, ruồi lằn bu đầy trên mặt. Không biết Bà Tư chết hôm nào mà giờ đã bắt đầu bốc mùi. Đám đông vừa coi vừa bịt mũi và khạc nhổ. Ruồi nhặng vo ve khắp cả cái chuồng heo.

 
Tiểu Lục Thần Phong

Comments

Popular posts from this blog

Bài trăm năm - Trần Yên Hòa

Truyện cực ngắn - Mã Lam

Mẹ đi về phía hoàng hôn - Trần Yên Hòa