Tiếng đàn Văn Cao, tiếng hát Trương Chi - Lê Hữu

 Văn Cao - Wikipedia

 

Tôi được đầu tiên và còn lại cuối cùng

(“Khuôn mặt em”, thơ Văn Cao)

 

“Văn Cao tài hoa hơn tôi nhiều”, nhạc sĩ Phạm Duy, trong tập Hồi Ký của mình, từng bộc lộ như vậy. Tôi tin là ông nói thực lòng chứ không phải cách nói ra vẻ nhũn nhặn, đề cao người bạn mình. Ông không nói rõ tài hoa ở chỗ nào, có thể vì những nét tài hoa ấy ai cũng nhận biết, không cần phải kể ra.

Văn Cao, từ soạn nhạc, làm thơ, vẽ tranh, viết văn, viết kịch, đến cầm kỳ thi tửu môn nào ông cũng tỏ ra xuất sắc và để lại những dấu ấn đậm nét.

Nhiều nhạc phẩm của Văn Cao vừa là bài thơ trữ tình vừa là bức tranh nhiều màu sắc sinh động, “Thiên thai” chẳng hạn.

Nhà tôi bên chiếc cầu soi nước

Em đến tôi một lần

Bao lũ chim rừng họp đàn trên khắp bến xuân

Từng đôi rung cánh trắng ríu rít ca… u ú ù u ú

Cành đào hoen nắng chan hoà…

Văn Cao, tiếng đàn bi phẫn

Cũng bài hát “Thiên thai”, tôi nhớ, trong video clip “Chuyện trò với ca sĩ Mai Hương”, giọng hát từng rất được yêu chuộng của miền Nam, Mai Hương kể về lần, cùng một nhóm văn nghệ sĩ, đến thăm nhạc sĩ Văn Cao ở Hà Nội. Trong lúc hát tặng ông ít câu trong bài “Thiên thai” theo đề nghị của bạn mình, chị để ý thấy ông vừa gật gù vừa gõ gõ những ngón tay lên thành ghế theo một nhịp đều đặn. Sau lưng ông là chiếc đàn piano cũ kỹ đến không thể nào cũ hơn. Chiếc đàn bạc phếch, tàn tạ theo thời gian, những phím đàn rệu rạo như sắp rơi rụng cả. Người nhạc sĩ già hom hem ngồi đó cũng tàn tạ, xác xơ như cây đàn, người bạn thân quý của ông từ bao nhiêu năm nay.

“Bác ơi,” Mai Hương ngừng hát, quay sang ông hỏi, “bác có thể đệm giúp cháu một vài câu trong nhạc phẩm Thiên Thai của bác được không?”

Văn Cao chìa ra cho chị thấy bàn tay ông, một ngón tay bị gãy gập.

“Đã từ lâu tôi không đàn địch gì được nữa,” ông nói, “vì chúng nó đánh tôi gãy một ngón tay.”

Mai Hương nói chị không biết “chúng nó” là ai và chị cũng không hỏi gì thêm.(1)  

Văn Cao cũng không có dịp nào bộc lộ thêm về chuyện ấy. Chỉ thấy trong một bài thơ cũ, ông có nhắc qua, chẳng biết có phải chúng đấy không.

Bao giờ nghe được bản tình ca
Bao giờ bình yên xem một tranh tĩnh vật
Bao giờ
Bao giờ chúng nó đi tất cả

Những con người không phải của chúng ta
Vẫn ngày ngày ngày ngang nhiên sống

(“Anh có nghe không?”, Giai phẩm mùa xuân, 2/1956)



Mai Hương hát tặng NS Văn Cao

bài “Thiên Thai” (Ảnh gia đình)

 

Câu chuyện “chúng nó đánh tôi gãy một ngón tay” nghe giống như chuyện phim cao bồi, vai chính là tay súng cừ khôi bị bọn cướp gài bẫy đánh dập nát cả bàn tay để không còn rút súng được nữa. Thủ đoạn tàn độc khiến người hùng trừ gian diệt bạo phải “phế bỏ võ công”, nói như ngôn ngữ kiếm hiệp Kim Dung.

Văn Cao có hơi khác, ông đời nào chịu “phế bỏ võ công”. Ông vẫn chơi đàn được, ông có cách chơi riêng của ông.

Lối chơi ấy cho thấy một phong cách riêng, không giống ai và không ai giống ông. Một phong cách “rất Văn Cao”. Thay cho những ngón tay lướt nhẹ trên phím đàn là những cú đấm, cú nện thình thịch lên những phím đàn tội tình ấy. Thay cho gõ nhẹ là đấm mạnh, đấm hết cỡ, đấm liên tục, như người võ sĩ quyền anh đấm đá túi bụi vào bao cát treo lủng lẳng trước mặt.

Văn Cao đấm bằng cả hai nắm tay. Không chỉ đấm, ông còn xoay người thúc mạnh hai cùi chỏ lên bàn phím rất điệu nghệ. Nghe đâu khi còn là chàng trai trẻ ở Hải Phòng, Văn Cao từng có thời kỳ luyện võ, từng thượng đài thi đấu và biểu diễn võ thuật nữa.

Từ một con người hiền hòa, trầm mặc, nói năng từ tốn, nhỏ nhẹ, trong phút chốc ông hóa thành một Văn Cao khác, xông vào đánh vật với cây đàn của mình. Kết thúc trận đấu, ông thở ra một hơi dài nhẹ nhõm.

Bên dưới là lời kể của một nhà thơ từng được xem màn trình diễn piano cực kỳ “ấn tượng” ấy.

Rồi đến lượt Văn Cao xuất hiện trước cây dương cầm. Im lặng. Chờ đợi. Ông cứ ngồi im trước cây đàn đến mấy phút liền…

Ông sẽ chơi đàn thế nào đây? Bỗng bàn tay ông nắm lại thành một nắm đấm. Ông bất ngờ đấm vào những phím đàn, vang lên hợp âm chói gắt như bom nổ. Thêm một nắm đấm nữa. Hai nắm đấm của ông cùng với cả cùi tay trút bão táp vào cây đàn, hết đợt này đến đợt khác. Chuỗi âm thanh ghê gớm ấy bỗng lặng đi đột ngột. Mọi người như nín thở. Ông dùng ngón tay trỏ chầm chậm mổ nhẹ vào một phím đàn, từng tiếng, từng tiếng một vang lên rành rọt, chậm dần, nhỏ dần cho đến khi ông thu bàn tay lại, trong tiếng vỗ tay ào lên không dứt. (2)

 

Ảnh: David Alan Harvey/National Geographic, 11/1989

 

Khi được hỏi, ông cho biết lối chơi đàn ấy giúp ông chống trả, đẩy lùi được nỗi cô đơn vây hãm ông bao lâu nay. “Sự cô đơn sâu thẳm chỉ có thể bù đắp bằng nghệ thuật,” ông nói thêm. Nghệ thuật của Văn Cao là nghệ thuật phá cách táo bạo. Chỉ khi ngồi trước cây đàn ấy, chỉ có lối chơi đàn ấy mới trả về ông sức sống mãnh liệt, như thổi bùng lên ngọn nến leo lét lúc nào cũng chập chờn muốn tắt. 

Những nắm đấm như trút xuống nỗi phẫn nộ tột cùng. Những uẩn ức bị đè nén, tích tụ được dịp bung vỡ, tuôn trào. Ông đấm thẳng vào mặt “chúng nó”.

Lối chơi đàn lạ lùng ấy hẳn cũng giúp ca sĩ Mai Hương hiểu thêm về cây đàn piano cũ mèm của người nhạc sĩ với dãy phím xộc xệch, rệu rạo trông như hàm răng sắp rơi rụng.

Cây đàn có đau không? Đau chứ, đấm huỳnh huỵch như thế không đau sao được, nhưng vẫn không đau bằng người chơi đàn từng hứng chịu những cú đấm hiểm hóc giáng xuống số phận mình.  

Giả dối như một con mèo, kín nhẹm như một bàn tay âm mưu trong truyện trinh thám, bài thơ “Anh có nghe không?” lập lờ, ấp úng, bí hiểm, hai mặt, tuy nhiên công chúng cũng hiểu nó muốn nói gì. Văn Cao gọi ai là “chúng nó”?...

Trong bài hát “Trương Chi”, Văn Cao gán cho người đánh cá cái khinh bạc tột độ của mình, không coi nhân quần ra cái gì hết, chỉ có một mình mình trên trái đất; hơi lạnh của chủ nghĩa cá nhân tuyệt đối toát ra như một âm khí nặng nề:

Ngồi đây ta gõ mạn thuyền
Ta ca trái đất còn riêng ta!

(Trich trong bài “Những tư tưởng nghệ thuật của Văn Cao”, Xuân Diệu, tạp chí Văn Nghệ, 7/1958)

Thế nhưng Văn Cao, ông không dễ bị đo ván, không dễ đầu hàng số phận. Qua tiếng đàn bi phẫn ấy ông muốn, nói như nhà thơ Phùng Quán, “Ngón tay tôi ai bẻ gãy đi, tôi sẽ dùng nắm tay nện lên những phím đàn.”

“Trương Chi chính là tôi đấy!”

Cũng bài hát “Trương Chi”, ca sĩ Ánh Tuyết kể lại rằng có lần, sau khi hát cho nhạc sĩ Văn Cao nghe bài hát cô rất yêu thích ấy, cô hỏi ông về nguồn cảm hứng dẫn đến việc sáng tác ca khúc này.

“Trương Chi chính là tôi đấy!” Văn Cao thốt lên sau ít phút trầm ngâm, rồi bật ra tiếng cười khan.

Câu nói khiến cô sững sờ. Cô không thể ngờ được rằng người nhạc sĩ gầy guộc, hom hem trước mắt cô lại mang tâm sự u uất, mang số phận nghiệt ngã của chàng ngư phủ Trương Chi ngày xửa ngày xưa. Lòng cô dâng lên nỗi xót xa.

Văn Cao viết “Trương Chi” như ký thác tâm sự mình, như vẽ bức chân dung tự họa của mình.

Hết “Thiên thai” đến “Suối mơ”, đến “Mùa xuân đầu tiên”, ông chỉ là anh lái đò Trương Chi tầm thường, dung mạo xấu xí, suốt đời tìm kiếm, đuổi bắt những giấc mơ không đến bao giờ. Mãi đến gần cuối đường cũng chỉ thấy những bến bờ mênh mông, những bến vắng hoang liêu chứ chẳng thấy ló dạng một “Bến xuân” nào.

Bi kịch của Trương Chi cũng là bi kịch của ông. Số phận đen đủi của Trương Chi cũng là số phận đen đủi của ông. Nỗi lòng Trương Chi cũng là nỗi niềm u uẩn, là nỗi cô đơn sâu kín của ông, nỗi cô đơn ông chỉ ôm lấy riêng mình, không san sẻ với ai được.

Tiếng nhạc Văn Cao, tiếng hát Trương Chi dẫu có làm say đắm lòng người vẫn cứ phải chuốc lấy những hất hủi, ghẻ lạnh, nếu không tự kết liễu đời mình thì cũng phải một đời câm nín.

Văn Cao không điển trai nhưng cũng không đến nỗi xấu xí; hơn thế nữa, khuôn mặt khắc khổ, nhiều nếp gấp như trái táo nhăn, thường lộ vẻ trầm tư, mệt mỏi của ông lại đặc biệt thu hút các nhiếp ảnh gia chuyên săn tìm người mẫu cho ảnh chân dung nghệ thuật.

Chân dung bà Nghiêm Thúy Băng, tranh Văn Cao

 

Người ta vẫn dùng hai chữ “bi kịch” để nói về số phận của Văn Cao. Có đúng và chỉ đúng khi ông còn tại thế, kể từ những năm cuối thập niên 1950s do những hệ lụy đến từ phong trào Nhân văn - Giai phẩm.

Từ một công thần với nhiều thành tích, nhiều công trạng và là tác giả bài Quốc ca của miền Bắc được cả nước ngưỡng mộ, ông bị thất sủng, bị cho ra rìa. Tiếp theo là những năm dài khốn khó, nhục nhằn, những năm sống cô đơn và cô độc.

Đấy là những năm không ai muốn lại gần ông, không cánh tay nào chìa ra với ông, những năm ông phải làm đủ mọi “nghề” để kiếm sống. Đấy là những năm ông phải xếp hàng cả buổi, phải chầu chực đến lượt mình để mua cho được lát thịt mỏng dính, lại còn bị bà hàng thịt “Cửa hàng mậu dịch quốc doanh” trừng mắt nạt nộ vì không chịu lên tiếng khi nghe gọi đến tên Văn Cao, văn thấp. Sau nhiều năm im hơi lặng tiếng, sau ngày “bên thắng cuộc” làm chủ đất nước, một sáng tác mới của Văn Cao (1976), ca khúc “Mùa xuân đầu tiên”, vẫn phải mang số phận không may. Phải đợi đến sau ngày tác giả lìa đời (1995), nhiều người trong nước mới biết rằng từng có một bài nhạc Xuân như thế hai mươi năm về trước.

Câu hát chủ điểm trong bài hát ấy là Từ đây, người biết yêu người. Cả bài nhạc Xuân toát lên một ý chính, gói trọn trong câu sáu chữ này. Bài hát như khơi gợi những tình tự dân tộc ở một góc khuất nào trong lòng người Việt Bắc-Nam hai miền.

Văn Cao, mãi đến cuối đời ông vẫn chưa thôi những viễn mơ. “Mùa xuân đầu tiên” ấy là viễn mơ, là giấc mơ sau cùng của ông. Giấc mơ sau cùng ấy bị “giam lỏng” suốt hai mươi năm, chỉ được “giải phóng” sau ngày ông lìa bỏ thế gian này.

Một khi đã nằm xuống là không còn khả năng gây hại, không còn gì để đề cao cảnh giác nữa, đấy là lúc ông nhận được nhiều ân sủng hơn bao giờ. Kể từ sau cái mốc ấy, sân khấu cuộc đời ông thay đổi phông màn, vở thiên trường kịch đổi từ bi kịch sang bi hài kịch. Ông được đúc tượng, được dựng phim, được phong tặng nhiều danh hiệu lẫy lừng, là nhạc sĩ lớn, là cây đại thụ âm nhạc, là nghệ sĩ bậc thầy, là nghệ sĩ thiên tài, là tượng đài nghệ thuật… Ông được ban tặng nhiều giải thưởng, nhiều huân chương cao quý, được đặt tên cho nhiều con đường của nhiều thành phố lớn, được tổ chức những “Đêm nhạc Văn Cao”, những lễ tưởng niệm ngày sinh, ngày mất để tôn vinh người nghệ sĩ lớn có nhiều cống hiến lớn lao cho đất nước.

Văn Cao, tôi chắc ông chẳng mấy hứng thú với những tấn tuồng ấy. Lúc sống ông đã chẳng màng thì bây giờ những “hàng mã” ấy lại càng vô nghĩa. Tôi chắc ông lại gật gù, lại trầm ngâm, lại bật tiếng cười khan, “Trương Chi chính là tôi đấy!”

Văn Cao, ông đã đi suốt cuộc hành trình gập ghềnh dài dằng dặc, đã đóng trọn vai diễn của mình trong vở kịch dài lê thê chỉ để được làm người nghệ sĩ tự do.

Văn Cao, dẫu sao đi nữa, dẫu có muộn màng, ông cũng được an ủi một điều là sau cùng “Cái gì của Caesar thì trả về cho Caesar”. Như thế, ông có thể bình thản đóng lại chương cuối cuốn sách đời của mình bằng câu thơ cuối trong bài thơ ông gửi về người mình thương yêu nhất.

Tôi được đầu tiên và còn lại cuối cùng (3)

 

Lê Hữu

(Tác giả gởi)

 

(1) The Jimmy Show, “Danh ca Mai Hương”, SET TV www.setchannel.tv, 12/2018

(2) Nguyễn Trọng Tạo, tạp ghi, “Ba biến khúc Văn Cao”, Viet Studies, 7/1995

(3) “Khuôn mặt em”, thơ Văn Cao

   

Giữa những ngày dài dằng dặc
Chỉ còn khuôn mặt em
Sáng trong và bình lặng

Dù hai đứa chúng ta
Chưa lúc nào sung sướng
Những ngày đau khổ ấy
Khuôn mặt em
Như mảnh trăng những đêm rừng cháy

Trên đường đi
Anh đặt em trên đồng cỏ
Thấy đẹp mãi màu xanh cỏ dại

Trên đường đi
Anh đặt em trên dốc núi
Để tìm lại những đường mềm của núi

Trên đường đi
Khuôn mặt em làm giếng
Để anh tìm lấy đáy ngọc châu
Ôi khuôn mặt sáng trong và bình lặng
Tôi được đầu tiên và còn lại cuối cùng.

(1974)

Comments

Popular posts from this blog

Truyện cực ngắn - Mã Lam

Bài trăm năm - Trần Yên Hòa

Mẹ đi về phía hoàng hôn - Trần Yên Hòa