Văn học hải ngoại: Các giai đoạn sinh hoạt & phát triển - Nguyễn Vy Khanh
[Văn Học Việt Nam 50 Năm Hải Ngoại. Quyển Thượng Tổng quan (Toronto: Nguyễn, 2025; lulu.com phát hành), trang 46-77]




GIAI-ĐOẠN HY VỌNG & HỢP LƯU (giai-đoạn trưởng thành, 1987-1991)
Vài biến cố:
– 1987-1991: mỗi năm có khoảng 100-200 tựa sách mới, nổi trội là hồi-ký, tiểu-thuyết – 1990-1991 là hai năm thịnh nhất;
– 1987-1989, nữ giới nhường phái nam về tác-phẩm và sinh hoạt văn-học nghệ-thuật;
<!>
– Từ sau 1987, “hiện tượng” Cởi trói / Đổi Mới ở trong nước đã ít nhiều ảnh-hưởng lên sinh hoạt hải-ngoại – làm người viết hải-ngoại chùn tay, theo nhận xét của Nguyễn Mộng Giác và Trần Vũ. Có thể có những nhà văn đã thành danh từ trước chậm hoặc không tiếp tục sáng-tác, nhưng những nhà văn mới, trẻ hơn, vẫn xông pha về văn-chương, thể-loại,…
Sau 1987, chính trị thế giới và Việt-Nam thay đổi đã ảnh hưởng đến giới văn học trong cũng như ngoài nước. Chủ nghĩa “thần thánh” và “đỉnh cao trí tuệ” đã bắt đầu suy yếu rồi biến dạng ở nhiều thành trì. Những lý tưởng mơ hồ, vô vọng đã đến lúc phải nhường chổ cho cái sống thực và hợp nhu cầu ý nguyện của người hôm nay. Văn chương vẫn lưu đày, hoài niệm nhưng tự do hơn. Đáng kể là sự xuất hiện của những nhà văn thơ trẻ, mới, như Trần Vũ, Trân Sa, Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Nguyễn Thị Ngọc Nhung, Nguyễn Thị Thanh Bình, Trần Mộng Tú, Hoàng Du Thụy, Lê Bi, Nguyễn Hoàng Nam, Thế Giang, Ngô Nguyên Dũng, Hồ Đình Nghiêm, Bùi Thanh Liêm, Đỗ Kh., Phan Thị Trọng Tuyến, Phạm Chi Lan, Phùng Nguyễn, Lê Tạo, Ngọc Khôi (Lời Cầu Hôn Trên Cổ Tháp, Xuân Thu, 1993), Trần Long Hồ, Nguyễn Đức Lập, Nguyễn Ý Thuần, Chân Phương, Vũ Đình Kh., Nguyễn Tấn Hưng, Mai Kim Ngọc, Hoàng Xuân Sơn, v.v. Họ có vẻ ít bị dĩ vãng đè nặng trong suy nghĩ; chiến tranh cũng bắt đầu xa, loãng. Với Trần Vũ, chiến tranh hay chiến thắng đều là gia tài đau khổ, do đó ông ảo hoá chiến tranh, người lính và người dân; nghĩ rằng có thể nhìn ra sự thật trong hư ảo, giả hoá. Bước ra khỏi chiến tranh, Trần Vũ mất niềm tin, trở thành một xa lạ, lãnh cảm với đồng loại. Với Đỗ Kh, thắng thua, sở hữu là trong trí tưởng và dục vọng. Phùng Nguyễn nhận ra mình khi đi trên những con đường mòn chiến-tranh. Hoàng Chính xác nhận chiến-tranh tàn khốc bắt đầu ở chính mỗi người. Với Lê Thị Huệ, có một thứ văn hoá chiến-tranh tệ bạc khiến đất nước và con người đã và đang rơi vào cõi tối. v.v. Cùng thời gian này ở trong nước, cũng có một thế hệ nhà văn mới ít mặc cảm và muốn dấn bước về phía trước như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Dương Thu Hương, Nguyễn Khắc Trường, Phan Thị Vàng Anh, v.v. Và tác-phẩm của họ được xuất-bản ở ngoài nước trong số có cuốn bị cấm hoặc tịch thu, nhập “dòng” với văn-học hải-ngoại. Các tác-giả thuộc văn-học miền Nam trước 1975 bị cấm viết hoặc không được xuất-bản cũng gởi tác-phẩm ra ngoài để đăng báo và xuất-bản như Thanh Tâm Tuyền, Doãn Quốc Sỹ, Hoàng Hải Thủy, Cung Tích Biền, v.v. Nhìn chung những năm đầu của giai đoạn này, 1987-1991, sinh hoạt văn-chương và xuất-bản ở hải-ngoại rất sôi nổi, gây tin tưởng, lạc quan về tương lai.
Đến cuối năm 1989, bức tường Bá-linh bị phá đổ cùng các chế độ cộng sản ở Đông Âu và Liên-xô thay nhau lui dần vào quá khứ, đã có những hy vọng loé lên trong văn chương nhưng cái u hoài vẫn còn đó. Đợt H.O. làm sống chính trị trở lại, có khi thật to tiếng; tuy nhiên đa số tỏ ra trầm thống hơn, thấm thía hơn, của những con người trở về từ địa ngục, những “xác” tàn tìm lại cảm giác sống sót và tình người. Văn học giai đoạn là một văn học đầy hoài niệm nhưng tự do và nhân bản dù lúc nào cũng có những lực lượng tự tại hoặc ngoại nhập sử-dụng bạo lực để ức hiếp những tiếng nói tự do đó! Trong tác phẩm hình thành một chính trị nhân danh con người, tuy nhiên chính trị viễn mơ, salon vẫn còn có mặt dù ngày càng yếu nhiều. Tất cả đều nhân danh dân-tộc và tổ quốc nhưng dấn thân cứu nước vì lý tưởng, thực chất ngày càng hiếm hoi bên cạnh những “chống cộng”, “thân cộng” thuần diễn văn và trình diễn.
Rồi trong đêm 9-11-1989, bức tường Bá Linh bị con người đập đổ sau hơn 28 năm được dựng lên để cản lối người dân muốn tìm tự do, dân chủ. Đế quốc cộng sản thay nhau tự xóa trên bản đồ, trong nước đã ngập ngừng “cởi trói”, “đổi mới”, một số nhà văn nhất là những người mới rời khỏi nước sau này bắt đầu nhìn lại chiến tranh với nhãn quan của con người đã sống đã là nạn nhân hơn là chủ nghĩa phải theo. Bắt đầu thời đề nghị và tranh luận “hòa hợp hòa giải” với nhóm Thông Luận ở Pháp và giao lưu văn hóa với những tạp chí như Trăm Con ở Canada, Thế Kỷ 21, Đối Thoại, Giao Điểm, Hợp Lưu ở Hoa Kỳ. Tranh luận, kiến nghị vang động một thời ở hải ngoại. Nay đã lắng và sự trao đổi, liên hệ đã ngày càng tăng. Chúng tôi nghĩ đây là điều tốt vì hai lẽ: một là có trao đổi thì mới hiểu biết, đối thoại, hai là văn học cũng như dân-tộc sẽ “giàu” ra, sẽ đa dạng ra. Thời gian sẽ gạn lọc, một số vết thương sẽ thành sẹo, những quá khích sẽ mất dần. Và yếu tố thời gian, thế hệ, sẽ thiên về phía hợp dung. Không có chế độ kiểm duyệt, không chủ trương quốc sách, đành để thời gian và số đông bình tỉnh phán xét với cái nhìn dân-tộc!
Rồi từ sau thập niên 1990, một số nhà văn “tị nạn chính-trị”, “lưu vong” đã hồi hương và đã tiếp xúc với thực-tại mới trong nước; một số liên-hệ văn học (văn và người) vốn đã khó khăn dần dà thành hình. Nhiều nhà văn đã thành công vượt thoát những cái nhãn hiệu hoặc kìm hãm các giai đoạn trước đó nhưng nói chung, ở hải-ngoại, văn chương vẫn lưu đày, hoài niệm, và lúc nào cũng tự do, chân-thật hơn!
Biến cố lịch sử bức tường Bá Linh bị phá đổ đêm 9-11-1989, khởi đi từ sự thất bại và suy thoái của các chính quyền Cộng sản, cộng thêm nhân tố Ronald Reagan, Đức giáo hoàng Gioan-Phaolô Đệ Nhị, Gorbatchev,… Biến cố phần nào cũng đã bén rễ với vụ người dân Đông Đức nổi loạn từ buổi hòa nhạc Rock của David Bowie, Eurythmics và Genesis dịp thành phố Bá Linh sinh nhật lần thứ 750, diễn ra bên phía Tây cuối tuần 6-8 tháng Sáu 1987, với 60.000 khán thính giả nhưng âm thanh vang sang phía Đông thu hút người ái mộ, người trẻ lây lan ra tập thể người dân chống đối chế độ Cộng sản Đông Đức đưa đến cuộc biểu tình đề cao Gorbatchev, đòi hỏi tự do và phá bức tường. Họ bị đàn áp, và là mầm mống đưa đến biến cố phá bỏ bức tường Bá Linh hai năm sau cùng với sự sụp đổ của chế độ Cộng Sản tại Nga và các nước Đông Âu.
Với văn học hải ngoại, không thể không ghi nhận truyện Thành Phố Sinh Nhật của Nguyên Nghĩa (Nguyễn Nghĩa, 1952 Sài Gòn -), sáng tác khi còn ở Tây Đức – sau này định cư ở Toronto, Canada. Thành Phố Sinh Nhật đăng trên tạp chí Tân Văn của nhạc sĩ nhà văn Hà Thúc Sinh, sau in trong tập truyện ngắn Chờ Chết (Los Alamitos CA: Xuân Thu, 1988). Truyện đặt trong không khí của buổi sinh nhật và nhân chứng là người thợ phụ trách dựng và gỡ sân khấu. Bên phía Đông, Rudoft, một anh học trò tai nghe ông Thầy “cán bộ” huênh hoang đề cao chế độ, nhưng mắt nhìn ra ngoài: “Chỉ cách một bức tường thôi mà chúng ta không thể nhìn thấy nhau. Như hai phần cắt rời của một thân thể, của chính một người. Người ta làm sinh nhật cho hai nửa ấy vào cùng một thời gian. Nhưng một nửa bên này thì đã chết. Sinh nhật bên này được tổ chức để mừng cho một cái xác mất đầu. Chỉ có thế thôi, nhưng chúng ta không vượt qua được, vì vượt qua là bỏ mạng” (tr. 153)
Trước 60.000 người, Bowie nổi hứng hét to “Xin được thành thật ngỏ lời chào tất cả các bạn đang ở phía bên kia bức tường”. Những tiếng vỗ tay, huýt sáo vang đội. Bao nhiêu chiếc loa khổng lồ, bức tường ở cách sân khấu không bao xa, chắc hẳn người bên Đông nghe được. Đám đông như được tiêm thuốc kích thích, bỗng dưng náo động hơn lên. Nhiều tiếng hô: “dẹp bức tường đi!” được nghe thấy…”.
“Gửi lời chào sang bức tường xong, David Bowie cất giọng hát, bài “Heroes”. Hắn đâu biết ở phía hằng ngày mặt trời mọc đang diễn ra chuyện hiếm có. Rừng người nam nữ kéo nhau đi trên đường Otto-Grotewohl và ngang chỗ ụ đóng tàu, tiến về phía cổng Brandenburg, hướng bức tường. Vừa đi vừa nhảy nhót, hát hò, cười nói lớn tiếng. Công an nhân dân từ đâu túa ra, chân chạy rầm rập, đạn lên nòng, súng chĩa về phía đoàn thính giả ái mộ. Một thằng có vũ khí hét to lên ra lệnh:
– Cút về nhà hết! Về mà nghe đài!
Một thanh niên trả lời lại:
– Ông đếch biết đài nào. Làm quái gì có trực tiếp truyền thanh mà nghe!
Đám đông vẫn không đổi hướng. Bỗng dưng có tiếng súng nổ. Như tiếng súng lệnh. Sau đó súng hằng loạt, thi nhau nổ chát chúa. Có người nào đó trong đám đông kêu hốt hoảng” “tụi nó bắn thật!” rồi ngã xuống, rên rỉ đau đớn. Máu bắt đầu đổ. Khung cảnh trở nên hỗn loạn. Người bị thương được đỡ lên, dìu đi. Không tên công an nào buồn gọi xe cứu thương. (…) Cơn phẫn uất bốc lên bất ngờ. Đám đông bắt đầu la ó phản đối. Tiếng hô đầu tiên được nghe sau đó:
– Giật sập mẹ nó bức tường kia đi!”
Sang ngày hôm sau nhóm Eurythmics trình diễn trong đó có bài “Sweet Dreams Are Made Of This”. Bên Đông, số người lên hàng ngàn. Bị công an cấm cản, “các thanh niên thiếu nữ vẫn tiếp tục xông tới, gào lên:
– Đập bỏ bức tường đi!
– Tự do cho người dân! (…)
“Năm mươi ba người bị thương, một trăm năm mươi bị bắt giữ. Đó là kết quả lúc ba giờ sáng rạng thứ hai…” (tr. 160, 161, 163).
Giai đoạn sôi nổi với những tác-phẩm gây phản ứng chính trị như Nhật Tiến khi ông xuất bản Mồ Hôi Của Đá (1988): người anh đại tá Việt cộng đòi thăm em đang bị cải tạo, người em không chịu tiếp. Trong Mồ Hôi Của Đá, qua chuyện của những người ở trong nước như Nguyệt, Toàn, Hoàng, ông Năm Tỏa, …, ông đề nghị đối thoại và tìm hiểu trong tinh thần nhân bản và dân tộc, để xây dựng lại quê hương. Ông nói đến con người, dân tộc, muốn không phân biệt nữa. Cuộc chiến mới ông muốn đề ra là cuộc chiến giữa nhân bản và phi nhân, giữa lẽ phải và sai quấy và giữa dân-tộc và phi dân tộc. Trong tập Cánh Cửa (1987), ông đi xa hơn, cho Trường, một người tù cải tạo thuyết phục, cải tạo lại tên cộng sản công an có trách nhiệm cải tạo chàng. Không chống Cộng triệt để một sống một chết như trước, nhưng bằng ý thức mới của tình thế địa lý mới của dân tộc. Chiến-tranh huynh đệ tương tàn thì cũng đã có những tình huống huynh đệ đối đầu chiến tuyến, Bắc-Nam. Nhật Tiến đã từng động đến lằn ranh quốc-cộng đó khoảng những năm 1990 khi đăng báo truyện Gặp Gỡ Cuối Năm (Cánh Cửa, 1990), người anh đại tá Việt-cộng đòi thăm em đang bị cải tạo nhưng người em không chịu tiếp. Chống Cộng ở đây và lúc đó không còn triệt để một sống một chết như trước, nhưng bằng ý thức mới của tình thế địa lý mới của dân tộc. Cộng trở thành đồng nghĩa với những lực lượng tàn độc, vô luân, vô văn hoá và bất nhân. Từ đó, ông đã thử đưa ra những quan điểm, đề nghị – ai trước thảm cảnh có thể làm ngơ nhất là người có tâm huyết!
Trần Vũ xuất hiện với truyện ngắn đầu tay Phiến Gương Thứ Sáu trên nguyệt san Làng Văn số 45, tháng 5-1988 – mục “Những Cây Bút Mới”, rồi Vườn Thượng Uyển Bỏ Hoang (số 52, 12-1988), sau đó trên tạp chí Văn Học với Ngôi Nhà Sau Lưng Văn Miếu (số 42, 7-1989), Bên Trong Pháo Đài (43, 8-1989),.. và nổi bật trên tạp chí Hợp Lưu. Trần Vũ khẳng định một văn tài trẻ của văn chương hải ngoại. Ngòi bút Trần Vũ nổi bật với tư tưởng thâm trầm, sâu sắc, cấu trúc bất ngờ, ngôn từ lạ kỳ, tìm tòi sáng tạo, qua hai tập truyện Ngôi Nhà Sau Lưng Văn Miếu (1989) và Cái Chết Sau Quá Khứ (1992): chiến tranh hay chiến thắng đều là gia tài đau khổ, do đó Trần Vũ trấn lột cùng huyền ảo hoá chiến tranh, người lính và người dân. Trần Vũ hoài nghi lịch sử như đã xảy ra, trước mắt hoặc như đã được viết, hoài nghi nhiều sự thực, lẫn ảo với thực, chiến thắng với hoà bình. Cái hiện tại như không thực, ông như muốn đi lùi lại quá khứ nhận diện con người và lịch sử, dùng nhân vật lịch sử, giả sử hoá để nói đến chiến tranh, lịch sử và cả văn hoá.
Ngô Nguyên Dũng trẻ và sáng tác mạnh lúc xuất hiện trên trường văn từ năm 1980, đã xuất bản các tập truyện ngắn Dòng Chữ Tâm Tình (Westminster CA: Văn Nghệ, 1988), Mười Hai Hoa Cúc (Toronto: Văn Lang, 1988), Tiếng Núi (Làng Văn 1992), truyện vừa Đêm (Làng Văn, 1989). Ông tiếp tục cùng hăng say chữ nghĩa ở các giai đoạn sau.
Đỗ Kh. tác giả các tập truyện ngắn Cây Gậy Làm Mưa (Tân Thư, 1989) và Không Khí Thời Chưa Chiến (Westminster CA: Hồng Lĩnh, 1993): văn-chương của ông mang không khí ngao du tự do với hiện tại, như hòn đá, như cảnh vật trơ ra đó; không giành hơn thua. Giai đoạn này, ông còn tập bút ký Ký Sự Đi Tây (Xuân Thu, 1990) hai tập Thơ Đỗ Kh. (Tân Thư, 1989) và Có Những Bực Mình, Tức Không Thể Nói (Tân Thư, 1990) -thơ có… mới và bất ngờ, nhưng cũng như văn, dục tính dồi dào, với không khí ẩm ướt, với ngôn từ nhục cảm tương xứng.
Nguyễn Tấn Hưng viết rất nhiều về một miền Nam trong cuộc chiến với những cuộc tình tuổi trẻ, những lối sống “vườn” và thủ đô. Những xáo trộn, chiến tranh, đi lính, những chuyến về phép bay bướm. Một Thuở Làm “Trùm” (Văn Nghệ, 1989), Một Chuyến Ra Khơi (1990) là chuyện đời lính Hải quân. [Một Trời Một Biển (1993) chuyện sinh viên sĩ quan Hải quân ở Nha Trang, những chuyện tình và phiêu lưu tình cảm]. Một số có thể xem là tùy bút, rõ nhất với Một Đời Để Học (Làng Văn, 1988) – có bản dịch Anh ngữ One Life of Learning (Winston-Salem, NC: Orchard Publisher, 1992), Một Kỷ Niệm Đẹp (1991) kể chuyện học và sử dụng máy điện toán vào việc viết văn, làm báo. Tập truyện Một Nỗi Buồn Riêng (1992) chuyện tha hương buồn xa làng xóm cũ thân thương.
Xuân Vũ tiếp tục lột trần sự thật về những tên đồ tể chiến tranh, trong giới văn nghệ và lãnh đạo, những cảnh chiến trường, thí người, từ đường mòn HCM vô Nam, những chặng đường oan nghiệt mà mỗi tấc đã phủ xương trắng nhuộm máu tươi của hàng triệu thanh thiếu niên trong số có những người vì lý tưởng mà bị oan khiên, những tranh chấp tư tưởng, giai cấp, những kỳ thị, trong bộ hồi ký Đường Đi Không Đến (xuất bản ở ngoài nước tập 2 đến 5, từ 1989), 2000 Ngày Đêm Trấn Thủ Củ Chi (hồi ký 7 tập, chung với Dương Đình Lôi, 1991-7), trường thiên tiểu-thuyết Dấu Chân Xuôi Ngược (1999-),… Ngoài ra ông còn là tác giả Bùn Đỏ (1993), Con Người Vốn Quý Nhất (1989), Đỏ và Vàng (1990), Ngọc Vùi (1997, 24 truyện ngắn với lời nhà xuất bản sẽ in tiếp 2 tập khác cộng chung thành hàng trăm truyện), Cách Mạng Tháng 8, Cha Đẻ Còng Số 8 về con người và chế độ miền Bắc, …
Mai Kim Ngọc (Vũ Đình Minh, 1937, Huế – ) có các tập truyện ngắn Một Chút Riêng Tư (Văn Nghệ, 1987), Nụ Tầm Xuân (Văn Học, 1987), tiểu thuyết Muôn Kiếp Cô Liêu (đăng từng kỳ Tập san Y Sĩ 1989-1990; Tập 1-Những Hạt Phấn Thông; Văn Nghệ, 1988) và truyện dài Bạn Văn (Làng Văn, 1990). Bạn Văn, một loại truyện trong một truyện khác: chuyện hai cặp Xuân-Hiên và Hoan-Lan bạn thân từ khi còn ở trong nước ra đến hải ngoại, cuộc sống đều thành đạt, vật chất đầy đủ nhưng tinh thần lúc nào cũng như thiếu thốn điều gì. Được Hoan đưa cho đọc bản thảo truyện dở dang, Hiên nhận ra “Hoan viết tiểu thuyết là vì phải sống ở Mỹ, hay tổng quát hơn, là vì phải sống ở ngoại quốc… Mà cũng vì một lý do tương tự như vậy mà sang đến bên này em mới mê tiểu thuyết và văn chương” (tr. 88). Đến độ góp ý với “tác giả” Hoan sửa … đoạn kết.
Đào Trường Phúc bộc lộ những suy tư về quê-hương và đời-sống lưu đày với tập tiểu luận Quê Hương Lưu Đày (Làng Văn, 1987).
Vũ Đình Kh. từ Canada có tập truyện ngắn và thơ Dốc Ké (TGXB, 1991).
*
Bộ phận hồi ký “cải tạo” được tiếp tục với những cựu tù “cải tạo” mới qua theo các diện HO từ đầu thập niên 1990 – và ODP đoàn tụ gia đình. Các hồi ký xuất bản sau này có thêm lợi ít nhất hai điểm: có thể viết rõ hơn về người mà không sợ nguy cho họ và hận thù cũng lắng xuống để có những cái nhìn con người và thật lòng hơn. Khác với hồi ký những kẻ chạy trước kể công lao, hồi ký cải tạo viết ra như vết sẹo coi như lành nhưng vẫn đau mỗi khi đụng tới.
Về phần các nhà văn miền Nam Việt-Nam từng trải qua nhiều năm ”cải tạo, học tập”, sau khi sống sót trở về và tị-nạn sang xứ người, trong các tác-phẩm của họ đã có một phong cách ngôn-ngữ khá đặc biệt, tạm gọi là “ngôn-ngữ hậu cải tạo” mà chúng tôi đã nhận thấy qua một số các nhà văn thơ như Nguyễn Sỹ Tế, Thảo Trường, Phan Nhật Nam, Cung Trầm Tưởng, Hiếu Đệ, Trạch Gầm, v.v. ở Hoa-Kỳ và Dương Tử, Trịnh Văn Dụ,… hiện cư ngụ ở Canada.
Ngôn-ngữ sử dụng trong tác-phẩm thường làm nên phong cách văn-chương của tác phẩm đó và của chính tác giả. Trong văn-học Việt-Nam, chúng ta có phong cách, văn phong Tự-Lực Văn đoàn với những ngôn-ngữ văn-chương của Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, rồi ngôn-ngữ văn-chương của Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, hoặc ngôn-ngữ tiểu-thuyết cûa Nguyễn Chánh Sắt, Hồ Biểu-Chánh, Bình-Nguyên Lộc, Lê Xuyên,… và ngôn-ngữ thơ của Hàn Mạc Tử, Đình Hùng, Nguyễn Tất Nhiên, Nguyên Sa, v.v. Ngược lại, “văn-học” của cộng sản Việt-Nam trước nay chỉ theo một phong cách minh-họa với một thứ ngôn-ngữ một chiều, một lề, một loại ngôn-ngữ cán bộ, xơ cứng, phong cách của “lưỡi gỗ” (“langue de bois”) dễ đưa đến phi lý vì quá hợp lý đúng khuôn mẫu … hình-thức và trở thành ngôn-ngữ của ngụy biện, áp đặt. Nếu so sánh với văn phong “Tự-Lực Văn đoàn”, một cổ võ văn-học ngôn-ngữ đời thường xa rời văn phong biền ngẫu ảnh hưởng ngoại thuộc của truyền thống trước đó, thì văn phong “minh họa” của cộng-sản là một cưỡng bức võ đoán của chính-trị lên văn-hóa khiến ngôn-ngữ thành vô hồn, thuộc về hoang tưởng hơn là của đời thường. Ngoài việc các nhà văn, cán bộ “văn-hóa” của chế độ sử dụng ngôn ngữ, từ vựng và cả cấu trúc ảnh hưởng ngoại nhập (Trung cộng) của một cơ cấu chính trị toàn-trị, áp đặt; phong cách viết thành văn và nội dung minh họa này đã tạo nên một “nền” văn-học với thứ ngôn-ngữ thành văn khá đồng dạng và vì thế dễ bị bỏ rơi như vài thập niên gần đây và cũng từ đấy mới xuất hiện những văn phong khác của những Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Tạ Duy Anh, v.v. Ở đây, hoàn cảnh và thời thế đã là những sinh tố giúp tạo nên phong cách, ngôn-ngữ.
Từ khi có chủ nghĩa cộng-sản, không biết có bao nhiêu những khổ tù ở Tây-bá lợi-á, ở những goulag, những ‘trại súc vật’, người ta đã sáng-tác bằng cách nghĩ và ‘lưu trữ’ trong trí nhớ. Điều người Việt chúng ta chắc được là đã có những ‘tù cải tạo’ của Việt-Nam Cộng-hòa ở những chốn gọi là ‘trại cải tạo’ đã sáng-tác thơ văn (nhất là thơ) bằng tâm tưởng và kín đáo giữ trong bộ nhớ đặc biệt đó của chính mình – bộ nhớ là tài sản cuối cùng còn lại. Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Dương Tử, Trạch Gầm, … đã có những vần thơ như vậy. Nguyễn Sỹ Tế thì đặc biệt sáng-tác những vần thơ ngoại ngữ, tiếng Pháp. Có người bí mật chuyển ra hải-ngoại nhưng phần lớn khi đã đến được vùng đất tự do, đã ‘nhớ lại’ những câu văn vần thơ có thể làm hại chết tác-giả chúng nếu để lộ trước đó, và đã xuất-bản thành tác-phẩm để lại cho đời. Chúng tôi đã phân tích thứ ngôn-ngữ “hậu cải tạo” đó qua thi ca của Dương Tử, Nguyễn Sỹ Tế, Cung Trầm Tưởng, Tô Thùy Yên, Thanh Tâm Tuyền và Trạch Gầm ở các tập về các tác-giả. Các chế độ bạo tàn, toàn trị có thể gông cùm thân xác và nhục mạ tha nhân (những kẻ đã thua, bị đổi chác, tay trắng, không thể tự vệ) nhưng tự bản chất, việc cầm tù đã là một thất bại lớn vì khi kẻ bị cầm cố còn lý trí, còn tâm tưởng, tinh thần, thì họ vẫn còn tất cả. Như người tù “cải tạo” không chịu mặc áo sợ chiếc áo còn lại đó sẽ dơ, rách và phải giặt, phải khâu vá; thịt da (và tinh thần) người tù có thể chịu đựng hơn thế nữa. Vả lại, thịt da rách sẽ có lúc liền da, nhưng tinh thần không khuất phục thì muôn đời vẫn bất khuất, kiên cường, không thế lực nào có thể lay đổ được! Như vậy, ‘cải tạo’ không đạt được gì, không ‘cải tạo’ được ai, chỉ là một đòn thù của kẻ tình cờ thắng một ván cờ, chứng tỏ thêm trò bịch bợm, ngu dốt của Việt cộng, biến con người thành con vật, hạ phẩm giá con người, người khác, hạ thấp cái có thành không, làm rã rời nghị lực, tinh thần chống đối. Cải tạo do đó chỉ làm cách biệt thêm, đã và sẽ là vấn nạn cho lương tâm con người và lịch sử! Các nhà thơ nói đến ở đây thuộc hai thế hệ, mỗi người với cảm nhận vì kinh-qua khác nhau, nhưng cả ba đều cùng là nạn nhân của cuộc chiến huynh đệ tương tàn, cùng trải qua những tháng năm đen tối vì cái Ác và bạo lực, vì người tàn sát người dù là đồng loại. Tác-phẩm chứng giám của các nhà thơ trong sự đa dạng thể loại và ngôn-ngữ, phong cách, đã và sẽ hiện diện trong văn-học Việt-Nam như là những vết tích không thể bôi xóa của một giai đoạn lịch-sử vẫn chưa khép lại!
Sĩ quan tâm lý chiến của Việt-Nam Cộng-hòa, nhà thơ Dương Tử tên thật Dương Khắc Đệ, là cựu tù ‘cải tạo’ nhưng ông theo chương trình đoàn tụ gia-đình định cư ở thành phố Montréal, Canada và ông đã xuất bản bộ trường ngâm Con Đường Cải Tạo (Arlington, VA : Tủ sách Cành Nam, 1990), một hồi ký cô đọng qua hình thức thi ca, văn chương đặc sắc, về những những chặng đường đoạn trường đó.
Đặng Chí Bình tên thật Trần Quốc Hưng, sinh ngày 20-2-1933 và mất tại Boston ngày 2-1-2023, là một trường hợp đặc-biệt, bộ hồi-ký Thép Đen của ông được người đọc ở hải-ngoại đón nhận, được tái-bản và mong đợi tập sau; gồm 4 tập gần 2000 trang, viết trong thời-gian gần 20 năm, 1985 đến 2002 và do NXB Đông Tiến xuất-bản từ 1987 đến 2005.
Nguyễn Vạn Hùng xuất-bản Vùng Đất Ngục Tù “hồi-ký tù cải tạo” (Los Angeles: NXB Thời Luận, 1988, mà theo tác-giả, tập hồi-ký này là “biểu tượng của cuộc đấu tranh thầm lặng ở những tù nhân, nó không chỉ xảy ra trong một trại tù mà là tất cả mọi trại tù”.
Nguyễn Tư viết Người Tù Ở Lại (Sydney, Úc: Trầm Lặng, 1987). Trong Thay Lời Tựa, nhà văn Duyên Anh giới thiệu: “Nguyễn Tư là một nhà văn còn mới. Anh chưa sử dụng điêu luyện kỹ thuật, chưa điều khiển được chữ nghĩa như một nhà phù thủy. Ở anh, đất đang vỡ, luống sắp lên, mưa sẽ đến. Ở anh, hứa hẹn phải đâm chồi, bởi vì anh đang có hai ngân hàng kinh nghiệm sống: nhà binh và nhà tù. Kỹ thuật chẳng bao giờ làm nên những thiết tha xao xuyến. Để có những thiết tha xao xuyến, nhà văn phải cô đơn đi trên sầu đau, dằng dặc hệ lụy, phải lầm lũi bước qua cầu đoạn trường, nói theo Nguyễn Du, nhà văn cần thiết cô đơn. Từ trong nỗi cô đơn, nhà văn soi sáng được Chân Lý, sẽ dâng hiến cho đời sống ý nghĩa mầu nhiệm về con người, về cuộc đời. (…) “Người Tù Ở Lại” của Nguyễn Tư là văn chương chiến hào, văn chương của người đã ngụp lặn dưới đáy thống khổ, đã chịu đựng tủi nhục và đã hãnh diện ngẩng mặt lên đời, hãnh diện làm con người đúng nghĩa con người… Tôi đã đọc NGUYỄN TƯ và tôi trông đợi nơi nhà văn này phóng lên bầu trời văn nghệ u ám bây giờ những tín hiệu túa vào mây”.
Nguyễn Tư còn làm thơ, trước và sau đó cuốn bút ký đã xuất bản Gởi Người Bên Ấy (thơ và văn; Sydney: TGXB, 1984), Dáng Xưa (thơ và văn; Sydney: Nam Anh, 1985), Đêm Lãng Quên và Bên Trời Lận Đận (thơ: TGXB, 1986), Hoa Nắng Trên Cao (truyện, 1988), Cát Lở (truyện: Trầm Lặng, 1990)và Đồi Lá Khô (truyện; Toronto: Làng Văn, 1993).
Nhã Ca với Hoa Phượng Đừng Đỏ Nữa (1989) là tác phẩm đầu sau khi ra khỏi nước năm 1988 nhờ vận động của Văn Bút Thụy-Điển. Cũng như Sài Gòn Cười Một Mình (Thương Yêu, 1990), Hồi Ký Một Người Mất Ngày Tháng (1990) và Chớp Mắt Một Thời (1992) sau đó là những hoài niệm về một miền Nam trước Tháng Tư Đen và chân dung xã hội mới với nhiều ấm ức khôn nguôi và cảnh đời ngang trái.
Nhà báo Nguyễn Ang Ca định cư ở Bỉ, có tập hồi-ký Giá Tự Do (Đại Nam, 1991) về thảm cảnh sống sau 30-4-1975 đưa đến chuyến vượt biên.
Thế Uyên với các tác-phẩm ở hải-ngoại đều do nhà Xuân Thu xuất-bản như Sài Gòn Sau 12 Năm (1989), Con Đường Qua Mùa Đông (1990), Nghĩ Trong Mùa Xuân (1992),… là những bút ký về những năm cải tạo, về quãng đời khó khăn ở Việt-Nam, về những nhân vật, những con người và cuộc đời đổi thay.
*
Các phía các nhà văn nghệ, họ tiếp tục khai thác chủ đề chiến tranh, khi trực tiếp khi gián tiếp vì thật ra trong mọi đề tài tình yêu, tình quê hương, sự hội nhập, những đổ nát, dở dang, v.v. đều có chiến tranh nếu không là cái khung cảnh thì cũng là nguyên do, hậu quả. Phần quá khứ và quê nhà vẫn khuấy động tâm tư các nhà văn, buộc cây viết vào những hình ảnh đã trở thành di tích khiến có thể làm mất hẳn khả năng hội nhập và làm mới.
Trần Long Hồ là tác giả các tập truyện Ngày Quanh Quẩn (Falls Church VA: Minh Văn, 1991), Niềm Vui Ung Thư (Minh Văn, 1992), Kẻ Đào Mồ (1993), Người Chị (1995), và bộ trường thiên Dung Thân với Cõi Sa Mù viết về đời sống của những người bác sĩ miền Nam sau khi Việt cộng chiếm, thời đầu của địa ngục do người cộng-sản đem đến miền Nam. Cuốn 2 là Cửa Địa Ngục. Cuốn 3 là Bóng Thiên Đường. Tập 6 truyện Sư Phụ (1997) đưa người đọc vào một thế giới khác, lặng lẽ mà cũng sôi nổi, nội-ngoại khó lường.
Nguyên Sa với trường thiên tiểu thuyết Giấc Mơ là lịch sử thi vị có, u mặc có, của nhiều con người; những liên hệ và số mạng từ những thập niên 20 ở Pháp đến thời chiến tranh Nam Bắc. Một cái nhìn muốn toàn diện về cuộc chiến vừa qua. Những hăng say xây dựng đất nước, những tập kết, nằm vùng, những thái độ trí thức, những đốn mạt và thất vọng. Một mảnh đời nhỏ của Hoạch trí thức du học Pháp được họ Hồ viết thư tay mời về giúp nước vì “nhân dân chờ đợi chú”, về Nam xong tập kết ra Bắc rồi lại vào Nam ở mật khu Mỏ Vẹt: phải tin tưởng ở đảng Cộng sản kể cả tin không là có. Lời của chính ủy Phong nói với Hoạch về một trò dàn cảnh quay phim :
“- Những đối tượng mà anh quay tin tưởng là có phim. Tất cả cán bộ và bộ đội nơi đây tin tưởng là có phim. Có một mình anh nghĩ là không có phim. Tư tưởng của anh khác với tư tưởng của nhân dân, của cán bộ, của bộ đội. Bộ anh tưởng tư tưởng của anh là hơn tư tưởng của toàn thể nhân dân hay sao? Anh không phải là đảng viên, các đồng chí có đảng viên nhiều người đảng tịch cả hai ba chục năm đều nghĩ là anh quay có phim. Anh cũng phải nghĩ như người ta. Chứ bộ anh chủ trương rằng tư tưởng của anh hơn tư tưởng của đảng hay sao?”.
Cách quay phim Đảng cũng có kỹ thuật, tiểu xảo: “- Quay hình Bác mà đèn đuốc tối thui, chiếu vào có một phần khuôn mặt Bác như thế này là sai lầm nặng nề. Phải thắp hết bốn ngọn đèn lên, mở hết ra, chiếu thẳng vào trán, vào mắt, vầng trán Bác mênh mông trời biển, đôi mắt Bác sáng như sao soi đường đi cho chúng ta mà, sáng, sáng, toàn diện khuôn mặt phải sáng, sáng nhất, sáng chưng là đôi mắt, là vừng trán…”
Những trái tai gai mắt đó khiến Hoạch xé thư họ Hồ, nghĩ “những khăn quàng đỏ, những huy chương ngôi sao vàng, những báo công, những thư tay, rút lại là những tù ngục giam giữ hồn người, làm cho mình không còn là mình, bản ngã bị nhốt kín trong một cái tôi giả tưởng… Phải dứt ra, phải xé bỏ, …”
Nhưng đã trễ. Trong một cuộc đột kích, Hoạch, người cầm máy quay phim bị trúng mìn chết, nhưng chiếc máy quay thì an toàn. Nghi ngờ và đau đớn đang chờ đợi Liên Hạ, người vợ mới cưới của Hoạch phải tìm về thành.
Giấc mơ lý tưởng sẽ trở thành giấc mơ của quỷ sau thời Đổi mới. Đảng viên trung kiên sẽ thành chuyên viên buôn quần lót đủ kiểu và sách dâm thư cũng như huấn luyện viên cho đội quân điếm chuyên “lậy bác, lậy bác”! Nguyên Sa nhắm viết bộ Giấc Mơ 5 tập nhưng đã bỏ dở khi bắt đầu viết tập 4. Truyện có nét đặc-biệt văn phong nhưng viết vội, thiếu chặt chẽ, phần nào vì ông ôm đồm nhiều sinh hoạt!
Nguyễn Đức Lập (1945-) trong tuyển tập “chuyện ngắn” Cuộc Chiến Tàn Chưa? (Fountain Valley CA: Hoa Gấm, 1987) trình bày cái cuộc chiến sau 1975 tiếp tục trong lòng người, trong xã hội “miền Nam lục tỉnh” với những nhiễu nhương do những người chủ mới gây ra. Người dân thường của miền Nam dù muốn dù không vẫn bị đứng về phía thua trận, bị đối xử tàn tệ đã đành, mà những người từng chiến đấu bên cạnh kẻ chiến thắng, những bà mẹ có con hy sinh trong bưng biền cho chiến tranh “thần thánh” đó cũng bị đối xử táng tận lương tâm như thường. Người chiến thắng hưởng thụ như Sáu Vịnh đã thú với đồng chí quá … sạch sau mấy tháng không gặp “Sáu Vịnh đã thay đổi một trời một vực. Bộ mặt ốm đói, đen mét như đất sình của lão đã biến đâu mất. Thay vào là một khuôn mặt phì nộn, hồng hào. Lão bận một bộ quần áo may bằng một loại vải ngoại quốc đắt tiền“:
” … ĐM thương anh chừng nào, tui càng giận tụi nó chừng nấy. Anh hổng thấy đó sao? Từ ngày đất nước hoàn toàn được giải phóng, thằng nào cũng vơ vét hết. Vì quyền lợi, thằng này lo tìm cách hạ gục thằng kia. Thằng thì giành nhà, thằng thì giành đất. Đâu có được mấy người giữ được tinh thần “cần, kiệm, liêm chính” như anh. Không mất phẩm chất thì cũng bị hũ hoá cả lũ. Mà rồi tốt như anh thì được cái gì. Anh bị tụi nó đá như đá banh… trời ơi, ba mươi mấy, bốn mươi mấy tuổi đảng mà để cho một thằng con nít sai lên, sai xuống… (…) Nói ra anh đừng buồn, tui mà hổng tham nhũng, móc ngoặc, tiền đâu mà lo bịnh cho anh, tiền đâu mà lo đám cưới cho thằng Hai?” (Thực Tế Phũ Phàng).
Nguyễn Đức Lập còn là tác-giả các “chuyện dài” Kiếm Đạo (2 tập Bảo kiếm tặng anh hùng và Thần thư trao hào kiệt; Hoa Gấm, 1987), Ngắn Cổ Khó Kêu (Hoa Gấm, 1989), Nhứt Biết, Nhì Quen (Tustin, CA : Thời Văn, 1990), Phong Vũ Tiêu Tiêu, Lôi Vũ Động (Tân Phong, 1991), Giàn Đậu Mưa Rung (Hoa Gấm, 1992), các tập truyện Cặp Mắt Quay Lại (Làng Văn, 1992), Khung Rào Hẹp (Tân Phong, 1992), “chuyện dài” Mảnh Vụn Một Đời (San Jose CA: Thời Báo, 1999),… Về thơ, ông có tuyển tập Những Đêm Không Ngũ (Hoa Gấm, 1986) và tập 1 Hương Giáo Đề Thơ (Bách Khoa, 1990).
Nguyễn Ý Thuần (Nguyễn Quốc Hợp, 19-5-1953 – ) viết nhiều về chiến tranh qua những cảnh sống, qua những kỷ niệm ôn lại, qua những hội nhập đời sống mới. Đã xuất bản: Tối Tháng Năm Tại Quán Ăn Đường Fifth (Westminster CA: Văn Nghệ, 1989), truyện dài Sợi Chỉ Trong Hồn (Tustin CA: Thời Văn, 1990) và các tập truyện ngắn Người Lính Còn Lại (San Jose CA: Nhân Văn, 1991), Ở Chốn Không Quen (San Jose CA: Thời Văn, 1994) luôn với không khí chiến-tranh.
Hà Thúc Sinh tiếp tục chuyện đoạn trường của người Việt: năm 1988, ông xuất bản tập thơ Thơ Viết Giữa Đường và truyện dài Chị Em (Tân Văn, 1988): Lan và Trực vượt biển, trôi giạt vào một hòn đảo hoang nhưng kết thúc tuyệt vọng vì hai chị em chỉ mong giữ được một ngọn khói với hy vọng được cứu mà cũng không được: người em đi tìm củi đốt đã không trở lại!
Về phía các nhà văn, Nguyễn Xuân Hoàng viết Sa Mạc (Xuân Thu, 1989) tự sự hoài niệm của Đặng Hồng Kha người sống ở đâu cũng như ở tạm, bên cạnh nhân-vật Kim trẻ hơn hội nhập vào đời-sống mới. Rồi trường thiên tiểu-thuyết mang tính tự sự Người Đi Trên Mây (Người Việt, 1987, viết lại Kẻ Tà Đạo đã xuất-bản trước 1975) và Bụi và Rác (Tập cuối bộ NĐTM; Thanh Văn, 1992). Tính tự sự tìm thấy đa phần trong các truyện và bút ký trong Căn Nhà Ngói Đỏ (Văn Nghệ, 1989).
Nguyễn Ngọc Ngạn sung sức sáng-tác nhất vào giai đoạn này, ông có các truyện dài Những Người Đàn Bà Còn Ở Lại (“truyện dài Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam từ 1978 đến nay”. San Jose CA: Đông Phương 1987, 1988); Trong Quan Tài Buồn (Toronto: Văn Lang, 1988), Sau Lần Cửa Khép (Văn Lang, 1988), Đếm Những Mảnh Tình (Văn Lang, 1989), Cõi Đêm (Toronto: Làng Văn, 1990), Dung Nhan Người Góa Phụ (Làng Văn,1990), Trên Lối Mòn Hậu Chiến (Làng Văn, 1990) kể chuyện người cộng sản hăng say “chiến thắng” rơi vào sa lầy của những tham vọng mới ở Đông Dương. Ông chống cộng và có tài tiểu thuyết hoá cũng như châm biếm khiến đọc ông không thể lầm với những nhà văn trong nước như Chu Văn, Nguyễn Khắc Trường về cùng một đề tài và không gian chung. Nước Đục (Viet Publications, 1987, 1989) là chuyện dài về người Việt hải ngoại; một cộng đồng có những kẻ ăn không ngồi rồi giành nhau chức hão, những chuyện chụp mũ, chim vợ bạn,…
Ngày Buồn Cũng Qua Mau (Xuân Thu, 1990), chuyện thế hệ thanh niên ở hải-ngoại sống như sống tạm, giữa lằn ranh Việt-Nam gốc hay xã-hội mới, trong tình-yêu, gia-đình và cộng đồng. Cùng giai đoạn, Nguyễn Ngọc Ngạn xuất-bản các tập truyện ngắn Một Lần Rồi Thôi (Xuân Thu, 1988), Người Đàn Bà Đi Bên Tôi (Làng Văn, 1991), Trong Sân Trường Ngày Ấy (XT, 1991),…
Hồ Linh tên thật Vũ Ngọc Anh, sinh năm 1939 tại Phát Diệm, Ninh Bình. Luật gia, nhà văn. Định cư tại San Jose, California, từng chủ-nhiệm và chủ-bút các tạp chí Kinh Doanh, Quê Hương, Trống Đồng và Nhà Tôi. Ông đã có hơn 20 tác phẩm trong số có truyện dài Những Ngày Đẫm Máu (San Jose CA: Đông Phương, 1988; amazon tb 2016) về các thánh Tử đạo Việt Nam, truyện dài Cô Nụ (San Jose CA: Cơ sở Kinh Doanh, 1994) về thời bách đạo ở miền Bắc trước sau Hiệp định Genève tháng 7-1954.
Đào Văn Bình (1942, Hải Phòng -), cựu phó Tỉnh trưởng, 9 năm tù “cải tạo”, vượt biên và định cư tại Hoa-Kỳ từ 1985, xuất bản truyện dài vượt biên Chọn Lựa (San Jose CA: TGXB, 1989) và Sóng Bạc Đầu “những đoản văn và truyện ngắn, 1984-1991” (TGXB, 1991).
Thế Giang sống ở Đức tỏ ra rất sắc bén, tinh tế và rất phê phán với văn phong đặc-biệt đất Bắc riêng của ông, qua 12 truyện ngắn xuất-bản trong tập Thằng Người Có Đuôi (Người Việt, 1987) vẽ bộ mặt tàn nhẫn hiện thực của con người trong một xã hội bạo động và chiến tranh thường trực ở miền Bắc. Đáng tiếc là sau đó không thấy tác-phẩm của ông xuất hiện nữa ngoài một số bút ký Hà-Nội Đỏ Băm Sáu Phố Phường đã đăng trên báo Người Việt.
Cùng hoàn cảnh ra đi từ miền Bắc, ngoài ông ra, có những nhà văn khác cũng khá thành công với độc-giả người Việt ở khắp năm châu như Lê Minh Hà (24-8-1962 – ) với các tập truyện ngắn Trăng Goá, (Thanh Văn, 1998); Gió Biếc (Văn Mới, 1999);…
Tị nạn ở Đức, Vũ Nam (Lý Văn Văn, 1954, Phước Tuy – ), cựu sĩ quan Việt-Nam Cộng-Hòa, đã tham gia sinh hoạt văn học nghệ thuật ở Canada và Hoa-Kỳ cũng như đã xuất bản các tập truyện ngắn Sau Ngày Tang (1987) và Bên Dòng Sông Danau (1990).
Nguyễn Vy Khanh
Comments
Post a Comment