Văn học hải ngoại: giai đoạn phôi thai, 1975–1980 - Nguyễn Vy Khanh

 

 

Các giai đoạn sinh hoạt & phát triển

Sau ngày 30 tháng Tư 1975, văn học miền Nam trước đó đã từng phát triển và hiện đại hoá  không ngừng đã theo người dân ra khỏi nước và trong 50 năm, đã trở thành văn học có thể từ của những người “thua trận”, “mất nước” để trở thành văn–học nhân bản, khai phóng và dân–tộc nếu phải so sánh với văn học độc đạo của trong nước! Nền văn học ấy trải dài đã năm thập niên, cho đến hôm nay dù không được như ban đầu nhưng tinh túy, nội dung đã thẩm thấu và vẫn hiện diện.

 <!>

 

Văn học hải–ngoại là do người Việt lưu vong, tị nạn ban đầu và con cháu của họ, sau này tiếp thêm người di dân mới. Căn cước tương lai của “diaspora” – nếu có thể nói được như vậy, sẽ nhẹ phần quá–khứ và lý–lịch, căn cước đó đa dạng và liên tục biến dạng theo thời đại và con người! –

Thơ văn và báo chí phong phú về cả phẩm và lượng ở thế hệ người Việt thứ nhất, rồi dần yếu đi, phải chăng đã đủ chứng tích định danh hay ý chí sáng tạo thơ văn muôn đời bớt hết còn thôi thúc hay xuất hiện dưới hình thức và phương tiện khác cho hôm nay?

Văn học hải ngoại cũng như đứa con bỏ nhà ra đi phải tự túc lấy, không còn những cơ cấu và thẩm quyền văn hoá; nền văn học đó được một số những “thẩm quyền” của giai đoạn trước vừa qua “may mắn” ra được khỏi nước, đã khơi dậy, phát động! Thật vậy ảnh hưởng của các “élite” văn hoá  và văn học hai thập niên đầu đã giúp đặt móng vững chắc cho văn học hải ngoại (về sau thiếu yếu tố “thẩm quyền” khiến cho sinh hoạt văn nghệ và báo chí trở nên đời thường, bớt phẩm chất). Nền móng này được các lớp người đến sau nhập vào, tiếp nối và duy trì hướng về tương lai.

Khi xảy ra biến cố 30-4-1975, một số cây viết tương lai của văn-học hải-ngoại đã có mặt sẵn: đó là những những sinh viên, Việt kiều đã rời Việt-Nam và sinh sống ở ngoài từ trước như Thi Vũ Võ Văn Ái, Nh. Tay Ngàn, Nhất Hạnh, Linh Bảo, Minh-Đức Hoài-Trinh, Phạm Công Thiện, …, những sinh viên, học sinh du học trở nên tị nạn hoặc di trú, nhập quốc tịch mới (Võ Đình, Mai Kim Ngọc, Nguyễn Bá Trạc, Nguyễn Hữu Trí, Đỗ Thông Minh, Ngô Nguyên Dũng, Thụy Khuê, Lê Hữu Khóa, Trịnh Y Thư, Phan Thị Trọng Tuyến, Mai Ninh, v.v.), những sinh viên từ miền Nam trở thành thân Cộng hoặc chống miền Nam (Nguyễn Hồi Thủ, Nam Dao Nguyễn Mạnh Hùng, Thái Kim Lan, Nguyễn Bá Chung, Phan Huy Đường, v.v.), những viên chức của miền Nam rời nhiệm sở từ trước (Bùi Bảo Trúc, Đặng Tiến, …) hoặc sau (những nhà văn quân nhân, công chức đào nhiệm rời Sài–Gòn trước ngày thất thủ 30-4-1975).

Tất cả, ngoại trừ Minh-Đức Hoài-Trinh, Đặng Tiến, Phạm Công Thiện, Thi Vũ, Linh Bảo, Nhất Hạnh,… đã khởi nghiệp văn trước 1975, phải chờ cộng đồng người Việt hải-ngoại thành hình từ máu, nước mắt và khổ nạn, họ mới có đất dụng võ (văn) và mới có người đọc văn-chương của họ! – nói như Võ Phiến vào năm 2004 thì “sau 1975, họ vùng lên múa bút, chẳng bao lâu nổi đình đám ngay (…) sau 1975, anh hoa phát tiết tưng bừng, họ hoá  ra nhà văn, nhà thơ…” (4).

50 năm nhưng đã có nhiều giai đoạn: di tản, lưu vong (giai đoạn phôi thai, 1975–1979), trở nên tị nạn chính trị (giai đoạn hình thành, 1980–86), rồi thời hy-vọng và hợp lưu (giai đoạn trưởng thành, 1987–1991), kế tiếp là hoài niệm (1992–2000), là lão hoá và chuyển động thế kỷ (2001–2015) và sau cùng là giai đoạn “không gian mạng” toàn cầu (2015–2025) đang và chắc chắn sẽ tiếp nối theo thời gian.

Ở giai đoạn đầu thật sự là thân phận lưu vong vô-vọng, thế hệ “di tản buồn”. Kế đến là “tị nạn chính trị” với những thuyền nhân (“boat people”) hay “bộ nhân”. Sau đó là đoàn tụ gia đình và cuối cùng là những cựu tù “cải tạo”, những đoàn tụ gia-đình khác và bảo lãnh. Sau rốt là du học sinh và lao động xuất khẩu, cũng đoàn tụ gia-đình và bảo lãnh nhưng có tỉ lệ thay đổi vì bắt đầu có di dân thị trường, con cháu Đảng viên và gia-đình người có quyền ở trong nước.

Hai giai đoạn đầu văn chương chủ-trì về một quê hương đã mất, về thân phận người Việt lang thang như người Do-Thái xưa hay như những tị nạn chính trị thời các thế chiến, và đã có những tác phẩm chống Cộng rất hăng say nhưng chuẩn mực. Giai đoạn tị nạn chính trị cao điểm, lúc mà nhiều người viết và thẩm quyền quốc tế đã nhận chân ai chính ai tà. Chính nghĩa quốc gia và việc “chống Cộng” cũng trải qua nhiều giông tố, từ thực tâm đến hình thức, khi các nhóm H.O. rời ngục tù, đày đọa để đến đất tự do, các sinh hoạt được sống lại nhưng rồi cũng rơi vào tình trạng cũ. Từ đó nảy sinh nhiều “ghetto văn nghệ” trong cái ghetto chung của người gốc Việt nằm trong ghetto to lớn hơn nữa của các sắc dân thiểu số xã hội và sinh hoạt văn nghệ bản xứ. Cuối cùng, “không gian mạng” toàn cầu sẽ lần hồi nối kết những con người làm văn chương nghệ thuật trong-ngoài Việt Nam – biên giới có thể mất đi nhưng trong cũng như ngoải vẫn chưa thể thực sự hiệp thông.

GIAI-ĐOẠN DI TẢN & LƯU VONG

(giai đoạn phôi thai, 1975–1980)

Sau ngày 30-4-1975, một cộng đồng người Việt hải ngoại được hình thành ở ngoài dãi đất hình chữ S và với thời-gian đã trải dài khắp năm châu. Hoạt động báo-chí và văn học đã bắt đầu ngay từ những trại tị nạn như ở đảo Guam và nơi những vùng “quê hương thứ hai”. Một nền văn học không cộng sản tiếp nối nền văn học miền Nam Cộng-Hoà, ở hải ngoại. Thật vậy, sau những hoảng hốt, bỡ ngỡ xa xứ lúc đầu, một nền văn học lưu vong được khởi dựng từ những bàn tay trắng, nhanh chóng trưởng thành, dựa vào “vốn liếng” đồ sộ là vô số những tấn thảm kịch riêng chung; những bi thảm và dư chấn của chiến tranh. Những thăng trầm, đổi đởi! Rồi những cố gắng hội nhập, tìm sống và xây dựng cho thế hệ tương lai. Người thiểu số trên xứ lạ, đất tạm dung, tiếng nói, phong tục, cuộc sống mới với những khủng hoảng, đảo lộn văn hoá, những ly dị, con cái tự do hơn, hấp thụ một “thổ ngơi” khác, người lớn tuổi trở nên “lạc hậu”, cô đơn hơn. Thêm vào đó, nhân số ngày càng gia tăng, nhất là giới văn nghệ! Tất cả đã góp phần tạo nên một nền văn học lưu vong đầy hoài niệm, trăn trở, nhưng rất tự do và nhân bản, dù lúc nào cũng có những lực lượng tự tại hoặc ngoại nhập sử-dụng bạo lực để ức hiếp những tiếng nói tự do đó!

Về báo chí lưu vong, những tờ báo đáng gọi là mở đầu, đi tiên phong là Chân Trời Mới ra đời ngay đầu tháng 5–1975 (số 1, ngày 2-5-1975) ở trại tị nạn đảo Guam rồi ở trại Pendleton, CA, nhưng in ấn thành báo phải xem tờ Đất Mới của Vũ Đức Vinh xuất bản ở Seattle, WA tháng 7–1975, Trắng Đen, tuần báo, số 1 ra ngày 6-3-1976, của Việt Định Phương và tờ Hồn Việt của Nguyễn Hoàng Đoan tháng 11–1977, tờ Việt Chiến của Giang Hữu Tuyên, rồi Văn Học Nghệ Thuật (4–1978) do Võ Phiến chủ-nhiệm và Lê Tất Điều chủ-bút,… là những tờ báo đầu tiên của người Việt tị nạn, lưu vong.

Một cách tổng quát, nội-dung các báo-chí và sáng-tác ở hải-ngoại ngay sau biến cố 30-4-1975 chưa mang đặc tính chính-trị (theo nghĩa chống Cộng tích cực) như sẽ về sau. Báo Hồn ViệtNam do nhà văn Minh Đức Hoài Trinh xuất-bản ở Paris từ 15-10-1975, nói đến hoà-bình và chiến-tranh như biến cố, sự kiện,… Khoảng một năm sau, các báo mới tỏ rõ thái độ chống cộng-sản Hà-Nội trước hết với những vụ cầm tù, cải tạo và những cái chết của Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Mạnh Côn… Hồn ViệtNam bộ mới với số tháng 10–1977 mới trở thành tờ báo đấu tranh chính-trị với ban biên-tập mới có sự tăng cường của Trần Tam Tiệp, Vũ Phong, Phạm Hữu. Như vậy, từ ý tưởng tái thiết đất nước sau chiến-tranh, báo đi đến chỗ đối đầu chính-trị và đấu tranh cho quê–hương! Cũng ở Pháp, có tờ Quê Mẹ của chủ-nhiệm Võ Văn Ái, xuất-bản năm 1976 tại Gennevilliers, sau số đầu thì ngưng và từ 1977 chỉnh đốn lại thành tạp-chí.

Các sáng-tác cũng vậy, lúc đầu là những hoài niệm, phẫn uất,… nhưng chưa có thái độ chính-trị cương quyết như từ giai đoạn sau. Các đề tài chính là đời sống lưu đày, tâm thức lưu vong, hoài niệm cố hương (khói lam chiều, thuyền viễn xứ – viễn dương chứ không chỉ là xuôi Nam của năm 1954!, v.v.), đối kháng, chiến tranh, v.v. với hai khuynh hướng một bên tục lụy, hoài niệm, một bên cáo trạng, phân biệt bạn thù. Các nhà văn Lê Tất Điều, Võ Phiến, Thanh Nam, v.v. đã có những tác phẩm về cuộc sống mới và về một phần nhỏ cuộc chiến vừa “kết thúc”!

Thanh Nam (Trần Đại Việt; 26-8-1931, Nam Định – 2-6-1985, Seattle WA) với tập Đất Khách, tuy xuất-bản năm 1983 (do nhà Sống Mới ở Fort Smith, Ark.), nhưng đã có những bài đăng trên báo Đất Mới từ năm 1976 tức khởi từ 7 năm trước. Thơ Thanh Nam đã là một hiện-tượng văn-học hải-ngoại vì ông vốn viết tiểu-thuyết và thơ ông trước năm 1975 không có gì đặc-biệt. Nhưng nay thơ ông là nỗi lòng lưu xứ với những đổi thay quá triệt để do đó đau thương nhiều, và ông là một trong hiếm người đầu tiên đã thốt lên những tâm tình bi thương chung đó trong Thơ Xuân Đất Khách (ghi ‘gởi Viên Linh’):

Tờ lịch đầu năm rớt hững hờ
Mới hay năm tháng đã thay mùa
Ra đi từ thuở làm ly khách
Sầu xứ hai xuân chẳng đợi chờ
(…)
Chấp nhận hai đời trong một kiếp
Đành cho dông bão phũ phàng đưa
Đầu thai lần nữa trên trần thế
Kéo nốt trăm năm kiếp sống nhờ
Đổi ngược họ tên cha mẹ đặt
Tập làm con trẻ nói ngu ngơ
Vùi sâu dĩ vãng vào tro bụi
Thân phận không bằng đứa mãng phu
Canh bạc chưa chơi mà hết vốn
Cờ còn nước đánh phải đành thua
Muốn rơi nước mắt khi tàn mộng
Nghĩ đắt vô cùng giá Tự Do!(…)” – 1977

(bản 1983, tr. 13, 14)

Người sống kiếp lưu đày sẽ héo tàn như xác thân người lính vừa thua trận :

“… Thức ngủ một mình trong tủi nhục
Dặm dài chân mỏi bước bơ vơ
Giống như người lính vừa thua trận

Nằm giữa sa trường nát gió mưa
Nhắm mắt cố quên đời chiến sĩ

Làm thân cây cỏ gục ven bờ (…)” (tr. 13)

Cao Tần, tức Lê Tất Điều, đã có những bài thơ xuất hiện lần đầu trên tờ Bút Lửa năm 1977, sau xuất bản trong Thơ Cao Tần (CA: Bút Lửa & Người Việt, 1978; Seattle WA: Tin Yêu, 1984; Westminster CA: Văn Nghệ, 1987). Những hoài niệm ngày xưa, người cũ và những phẫn uất bi hùng về cuộc chiến:

Trong ví ta này chứng chỉ tại ngũ
Mất nước rồi còn hiệu lực hơi lâu
Chiều lưu lạc chợt thương tờ giấy cũ
Tái tê cười: Giờ gia hạn nơi đâu? (…)
Mười tám tuổi thành công dân nước Việt
Tên chụp hình làm ta xấu như ma
Thằng khốn nạn làm sao mà nó biết
Ta sẽ thành dân mất nước tan nhà
Hai mươi tuổi ta đi làm chiến sĩ
Bước giày đinh lạng quạng một đời trai
Vừa đánh giặc vừa lừng khừng triết lý
Nhưng thằng này yêu nước chẳng thua ai (…)
Hỡi thằng chiến binh một đời dũng cảm
Mày lang thang đất lạ đến bao giờ
Ôi trong ví mỗi người dân mất nước
Còn một oan hồn mặt mũi ngu ngơ
Ôi trong trí mỗi anh hùng thuở trước
Còn dậy trời lên những buổi tung cờ

(Cảm Khái, 1977)

Sống một không gian hoàn toàn mới, khác lạ, cả ngôn ngữ cũng không/chưa quen nói, nên những lá thư là sợi dây gắn bó với cội nguồn:

Thư quê hương như tên hề ốm nặng
Hồn tang thương sau mặt nạ tươi cười
Son phấn hân hoan phủ nghìn cay đắng
Mắt lệ đầy, miệng hát những lời vui…

(…) Gửi cho anh vài sợi tóc mẹ già
Rụng âm thầm trên hiên chiều hiu quạnh
(Nuôi một bầy con cuối đời vẫn lạnh)
Cho anh hôn ơn nặng một thời xa…

(…) Gửi cho anh viên sỏi nhỏ bên đường
Anh sẽ đọc ra trăm nghìn lối cũ
Gửi cho anh vài nhánh cỏ quê hương
Anh sẽ đọc đất trời ta đã thở

Và gửi cho anh một tờ giấy trắng
Thấm nước trời quê qua mái dột đêm mưa
Để anh đọc: Mênh mông đời lạnh vắng
Em tiếc thương hoài ấm áp gối chăn xưa
…” – 4–1977

(Thư Quê Hương)

Nhà thơ Nhất Tuấn thì nhớ con và rồi tự vấn :

“… Con gái yêu bé bỏng
Xa cách đã từ lâu
Nhạt nhòa trong ảo mộng
Tuyết Hằng con ở đâu?
Bỏ đơn vị, gia đình
Thoát thân bố chạy trước
Tên Trung tá đào binh
Cắm đầu giông khỏi nước
Làm thân cây bật gốc
Trong kiếp đời lưu vong
Tan hàng trong tủi nhục
Sống đây mà như không…” (Mò Kim Đáy Biển)

Hoàng Chính Nghĩa hờn căm:

Huyệt mộ giữa mưa đang sủi bọt
Bạn ta vừa nhắc lại hương trầm
Tháng tư trời đất đầy mây trắng
Trí lòng như sói tru căm căm

(Tuyển Tập Thi Ca 75–77, tr. 95)

Hoàng Khởi Phong lên tiếng Ta Thật Tình Buồn Hộ Cho Những Bạn Ta:

“Khi ta chết xin hãy làm thủy táng
Đừng chôn ta nơi xứ lạ quê người
Khi con người không còn chút lòng nhân
Thì Thượng Đế đã di cư nơi khác
Nên ta sợ trong đoàn người tị nạn
Có cả Thích Ca và Chúa Jesus
Lũ chúng ta lòng tin giờ nguội lạnh
Thì sá chi địa ngục với kinh cầu
Hãy đóng cho ta một chiếc quan tài
Bằng gỗ nhẹ, thả trôi trên biển Thái
Đừng nặng quá để chìm sâu dưới biển
Kẻo hồn ta mãi mãi quẩn quanh hoài (…)
Lũ chúng ta mười phương trời hoạn nạn
Lìa quê cha như thú chạy cháy rừng
Chân vẫn nặng những con đường cũ
Mắt vẫn còn tưởng nhớ gió trăng xưa
Ngày ta đi tiễn chân ta bờ biển
Xúm nhau vào đẩy hộ bước chân ta
Lũ chúng ta vài bạn già lưu lạc
Thì hãy xem chết cũng như về (…)
Tiễn chân ta đừng một ai nhỏ lệ
Bởi vì ta lòng mở những hân hoan
Đời đã khép những ngày dài u tối
Ta thật tình buồn hộ những bạn ta”

(Tuyển Tập Thi ca 75–77)

Như một cánh tay nối dài văn–học miền Nam bị bức tử vào cuối tháng Tư 1975, khởi lên một nỗ lực giữ ngọn đuốc văn-chương tự do với những nhà văn thơ đã có mặt ở ngoài nước trước đó, như Nh. Tay Ngàn (Nguyễn Văn Nhĩ) có liên khúc Nỗi Liên Đen Tối Vô Cùng, một bài thơ Tự do 255 câu – xuất hiện trên tờ Quê Mẹ, nỗi nhớ và chiến-tranh đã trong thơ thời xứ người nhiều năm trước biến cố 1975 – nhà thơ lúc đó sống ở Paris, vẫn ám ảnh hình bóng Liên Mà Thương Quá Em Liên…:

“… Tôi có mười hai điệu Liên sầu
Mấy ngày thơ em hẹn tôi như ánh sáng
Đùa quanh tà áo em
Tôi có mười hai năm đi qua trên hơi thở
Run đau khi tiếng vạc buồn hư không
Ngày thơ Liên chờ tôi buổi nắng
Trí nhớ giống mỗi con cánh cam thương yêu
Biết kêu và biết tình ru lòng tơ mộng
Biết những bài trầm ca giấu trong
quyển sách vô vi
Có là chữ Như trong đầu bồ tát
Của nền không bị lãng quên (…)
 Tôi ám ảnh con cánh cam trên đầu chim Việt
Nhưng lửa rủ tôi cầm lại sầu thuyết-kịch
Có những oan hồn nhắn tôi cuộc gặp gỡ
Nơi Liên đã khóc đêm ngày
Trong mười hai năm Trà Vinh đầy quạ
Thôi rồi Liên ơi… (…)
Tôi và Liên một ngày dài
Cánh cửa quê-hương đầy vết đạn
Năm nào tối mịt ba mươi
Hoa mai trên cổ Liên thành mùi gió vọng
Xa xa đảo lạ vô hình rồi
Tôi chúc Liên như mặt trời
vừa nhận ra tuổi tác
Ngày sau mùa thu bị chết với lá vàng
Bước Liên về bảo rằng tình hoài hương ở trong trí tưởng
Một xưa tôi mong đợi phượng hoàng về đời
Nẻo tình ca cỏ non làm hơi thở”

Minh Đức Hoài Trinh là một trong những nhà văn vận động lập lại Văn Bút Việt-Nam Hải Ngoại (thành lập/ra mắt ngày 25-6-1978 tại Paris, cùng Trần Tam Tiệp, tổng-thư-ký, người bị trong nước gọi là “tay cầm đầu bọn Biệt Kích Cầm Bút”,…). Bà viết nhiều tác phẩm về một quê hương đã mất: Chiếm Lại Quê Hương (kịch thơ), Dòng Mưa Trích Lịch (Bruxelles: Thanh Long, 1976), Bài Thơ Cho Quê Hương (Paris: Nguyễn Quang, 1976), v.v.

Võ Phiến xuất bản Thư Gửi Bạn (Des Moines, Iowa: Người Việt, 1976) được xem là ấn phẩm đầu tiên của nhà văn tị nạn hải ngoại, rồi Ly Hương (tập tùy bút chung với Lê Tất Điều; Des Moines, Iowa: Người Việt, 1977), Nguyên Vẹn (Người Việt, 1978), Lại Thư Gửi Bạn (Westminster, CA: Người Việt, 1979) viết về đời sống lưu vong, nơi không gian xa lạ. Truyện dài Nguyên Vẹn (1978) tả cuộc đời biến đổi từ trong nước ra nước ngoài, những tâm tình nhớ quê nhà, những người bạn mới cũ. Đặc biệt truyện Chiếc Chìa Khóa (Tùy Bút 2) tả lại tâm tình hoảng hốt và hối hận với cha già và người nhà ở lại của một người ly hương. Những truyện Mùa Xuân An Lành, Một Ngày Để Tùy Nghi,… diễn tả đời-sống mới ở xứ người.

Lê Tất Điều ngoài Ly Hương nói trêncòn có tập bút ký Ngưng Bắn Ngày Thứ 492 (Des Moines, Iowa: Người Việt, 1977).

Ở Đức, Thích Như Điển (tên thật Lê Cường, thơ văn ký Như Điển), từ Nhật sang tị nạn tại Hannover, xuất bản các tập truyện Giọt Mưa Đầu Hạ (1979) và Ngỡ Ngàng (1980) (5).

Cùng Minh Đức Hoài Trinh ở Pháp, các nhà văn Võ Phiến, Thanh Nam, Cao Tần Lê Tất Điều, Viên Linh ở Hoa-Kỳ đã làm nên rõ đặc tính và đánh dấu những bước đầu của văn-học hải-ngoại.

Vào giai đoạn này, các tiểu luận biênkhảo chưa thật sự có mặt, ngoài vài tập như Những Ngày Cuối Cùng Của ViệtNam CộngHòa (Montréal: Tủ sách Nghiên Cứu Sử Địa, 1979) của Nguyễn Khắc Ngữ; Những Bí Ẩn Về Cái Chết Của ViệtNam: Kissinger trong bẫy sập (Người Việt, 1977) và Chính Trị Mỹ Sau Vụ Phản Bội ViệtNam CộngHòa (TGXB, 1978) của Phạm Kim Vinh; Làm Gì? của Trần Lê (Việt-Nam Hải-ngoại, 1979), …

 

Nguyễn Vy Khanh


Mời nghe nhạc:

 

Gửi đến các bạn ca khúc: 

 

"Phía Không Em" 

 

thơ TYH, 

nhạc với giọng nam SUNO AI:

 

https://www.youtube.com/watch?v=kGVmZ1AlY5s

 

 

Chú-thích:

4– Võ Phiến. “Kẻ Viết Người Đọc” in Cuối Cùng (Thế Kỷ 21, 2009, tr. 63).

5– Thích Như Điển sau đó cho đến nay là hàng trăm ấn phấm biên soạn và dịch thuật về Đạo. Ông còn sáng lập tạp chí Viên Giác phát hành từ 1-1-1979 cho đến nay 2025.

[Văn Học Việt Nam 50 Năm Hải Ngoại. Quyển Thượng Tổng quan (Toronto: Nguyễn, 2025; lulu.com phát hành), trang 19–28]

 

Screenshot

Comments

Popular posts from this blog

Bài trăm năm - Trần Yên Hòa

Truyện cực ngắn - Mã Lam

Mẹ đi về phía hoàng hôn - Trần Yên Hòa