Cơn địa chấn mơ hồ - Hoàng Chính
tranh nguyễn trung
Đều đặn mỗi ngày. Từ mười hai giờ khuya đến bảy giờ sáng. Hai trăm tờ báo. Hai trăm khách hàng. Công việc của tôi là như thế. Thiên hạ ngủ thì mình thức. Nhiều người gọi tôi là paperboy, dù tôi đã nhập nhằng cái tuổi trung niên. Lưng đã chớm còng và các khớp xương bắt đầu nhức mỏi.
<!>
Tôi đến thành phố này cách đây không lâu. Hai chuyến bay, một từ trại tỵ nạn, một cất cánh từ Hong Kong. Vừa mới chân ướt chân ráo, nhận ngay được công việc làm tiền mặt. Vậy là may mắn. Người ta cứ trầm trồ với tôi như thế. Bởi thành phố đang lao nhao những người thất nghiệp. Mỗi đêm tôi đến văn phòng đại lý, nhận một chồng báo. Đếm đủ hai trăm tờ. Phải giao từng tờ đến tận cửa nhà của mỗi khách hàng. Tôi tập thói quen mới: ban ngày ngủ, ban đêm thức. Thế nên, ở thành phố này, tôi chỉ quen thuộc với khu vực có khách hàng mua báo và cũng chỉ biết mặt những con đường này về đêm khi mọi cánh cửa đã đóng kín.
Tôi hấp tấp lái xe cho kịp giờ, tìm địa chỉ khách hàng và dừng xe liên tục để đem tờ báo đặt vào thùng thư cho khách. Trong đêm đen, những con đường vắng ngắt, thỉnh thoảng một chiếc xe chạy vút qua mặt tôi, ngọn đèn sau đuôi vạch một vệt đỏ. Tôi quen mắt với những cái vạch màu đỏ ấy. Và thích thú trước những ngọn đèn giao thông về đêm thay vì hoạt động bình thường, thì lại nhấp nháy liên tục để đám tài xế đi khuya tùy nghi ứng biến khi đến ngã tư. Tôi lầm lũi một mình trong đêm như thế từ nửa đêm đến sáng. Ngừng xe, hì hạch một quãng đường, gài tờ báo vào thùng thư hay nhét giữa hai lớp cửa. Nhìn bóng mình cứ dài ra rồi ngắn lại trong ánh sáng vàng vọt của những ngọn đèn đường, tôi ngỡ như mình có một tên bạn đồng hành. Trước những ngôi nhà đẹp như tòa lâu đài nho nhỏ, tôi rón rén bước chậm, như sợ làm hư sân cỏ xanh mướt trước nhà.
Hai giờ sáng hôm ấy, qua căn nhà có những bậc tam cấp và hàng cột xi măng mang kiến trúc của một ngôi đền Hy Lạp, tôi thấy lề đường trước nhà có một chồng tạp chí buộc thành bó, đặt cạnh một thùng rác. Có lẽ sáng hôm sau xe rác sẽ đi qua khu phố này lấy rác và thu thập đồ tái chế. Ấy là khu nhà giàu. Nhà nào cũng bề thế, đồ sộ. Bọn chủ cả, đám luật sư, bác sĩ ở khu này. Có cả những giáo sư đại học bởi khu nhà ở gần một trường đại học nổi tiếng về ngành điện tử.
Tôi dừng lại bên chồng tạp chí, nghiêng đầu ngắm nghía. Sách vở, báo chí, giấy mực bao giờ cũng cuốn hút tôi. Tôi nhìn quanh. Đường phố vắng tanh, đêm hãy còn khuya lắm. Tôi cúi xuống chạm nhẹ vào bìa tờ tạp chí nằm trên cùng. Sợi dây chằng buộc chặt làm cong mặt bìa. Tôi vuốt ve cái bìa trơn bóng và mát rượi. Tim tôi đập nhanh trong lồng ngực. Cái này người ta đặt bên lề đường, tức là người ta bỏ đi rồi, có lấy cũng chẳng ai bắt tội mình ăn trộm. Tôi hít một hơi dài, tự trấn an như thế và trịnh trọng khom người ôm nguyên chồng tạp chí vào người. Chồng báo nặng trĩu, kéo xệ hai vai. Tôi thả cái chồng báo nặng nề ấy vào cốp xe. Tôi có cảm giác lòng xe trĩu xuống. Suốt quãng đường còn lại, tôi nôn nóng muốn mau về nhà để mở tung chồng tạp chí ra xem.
Khi bầu trời đỏ rực trên nóc những tòa chung cư, công việc giao báo cũng hoàn tất. Vừa về đến nhà, tôi hí hửng tháo dây buộc, lật vội từng cuốn tạp chí. Mắt dán vào những hình bìa đủ màu sắc, tay vuốt ve những bìa giấy bóng. Những cuốn tạp chí gần như còn mới tinh. Có đủ loại báo trong cái bó ấy. Từ điện ảnh, qua thời trang, đến máy móc điện tử và nghệ thuật trồng cây, làm vườn. Những cuốn báo tuần, báo tháng xuất bản từ nhiều tháng trước. Người ta đọc xong rồi bỏ đi, nhưng với tôi thì còn rất mới. Tôi tỉ mỉ lật từng trang của mỗi cuốn. Những ngôi sao điện ảnh không quen biết, mắt đong đưa, môi đắm đuối những nụ cười. Đám người mẫu thời trang uốn éo lướt đi như lũ mèo hoang, quét cả đuôi áo choàng lên mặt tôi. Mùi nước hoa chan hòa căn phòng. Những chiếc máy chụp hình với ống kính dài thườn thượt như chuỗi toa tàu lao vun vút giữa những cánh đồng đầy hoa đủ sắc màu lung linh trong nắng sớm. Tôi lật hết cuốn này đến cuốn khác. Tôi chưa vội đọc bất cứ bài báo nào. Kho tàng này là của tôi. Tôi muốn thong thả khám phá từng ngõ ngách của món quà vô giá ấy.
Chợt một vật gì đó lọt ra từ giữa những trang báo, rơi xuống sàn nhà. Tôi cúi xuống nhặt lên. Một bao thư dày không dán kín và cũng không có tem. Tôi lật qua lật lại cái bao thư dày cộm ấy. Phía lưng bao thư chỉ có một chữ viết bằng mực đen với những nét cứng như cành cây khô: Phuong. Một cái tên. Hẳn là tên tiếng Việt. Tôi tò mò mở cái bao thư ấy ra và giật mình vì xếp gọn trong bao thư là một xấp tiền giấy. Tim tôi bỗng loạn nhịp. Tôi nắm chặt bao thư, chạy vào phòng ngủ, đóng cửa lại như sợ ai trông thấy. Xấp tiền toàn giấy hai chục. Đầu óc tôi rối bời. Tôi đếm đi đếm lại cọc tiền ấy. Mỗi lần đếm lại ra con số khác. Có lẽ tôi hồi hộp quá nên đếm sai. Tôi kéo hộc tủ bàn học ở góc phòng, lôi ra cái máy tính cũ. Cái máy ném cho tôi con số “550.00”. Năm trăm năm chục đô la. Con số vượt quá mức tưởng tượng của tôi. Tôi đi giao hai trăm tờ báo, mỗi tờ được trả hai mươi xu. Một ngày làm từ mười hai giờ đêm đến bảy giờ sáng, lãnh được bốn mươi đồng tiền mặt. May mà không phải khai thuế, nếu không, con số còn thấp hơn nữa. Chiếc xe thì cũ rích mà nợ thì chưa trả hết. Chỗ ở thì thuê một phòng trong căn nhà của một người đồng hương. Vậy mà hôm nay từ trên trời rơi xuống năm trăm năm chục đồng, không thẫn thờ sao được.
Tôi xoay cái bao thư trong tay. Chỉ có một cái tên, với những mẫu tự xiên xẹo. Phuong. Chắc là Phương hay Phượng. Cứ cho là Phượng đi. Tôi vẽ vội trong đầu hình ảnh người thiếu nữ tên Phượng. Tôi vẽ mái tóc dài. Tôi vẽ khuôn mặt trái xoan. Tô thêm đôi môi màu hồng. Và không hiểu sao tôi lại thêm vào khóe môi trên một chiếc mụn ruồi. Một phụ nữ, tôi đoán vậy. Và tôi tin cô ta là người Việt. Chắc cô ta cũng là người mới đến định cư ở xứ này như tôi. Điều ấy làm tôi băn khoăn. Tôi tự hỏi có nên giữ món tiền năm trăm rưởi ấy không? Rồi tôi tự nhủ sẽ trả cái bao thư và mọi thứ bên trong cho cô ấy. Tôi nghĩ khi nhận lại số tiền, chắc hẳn cô ta sẽ vui lắm. Và tôi biết đâu lại quen được một cô gái đồng hương. Tôi đã gần bốn mươi mà vẫn còn lẻ loi. Mỗi lần gọi điện về nhà thăm bố mẹ, lại nghe cái câu ngắn, gọn: “Chừng nào…”
Vậy là suốt ngày hôm ấy, tôi vật vã với ý nghĩ giữ món tiền ấy hay trả lại. Trong giấc ngủ chập chờn, tôi phân thân thành hai thằng tôi, đứa này gian manh, đứa kia lương thiện. Chúng nó lý luận, đôi co, xô đẩy, rồi vung nắm tay ẩu đả. Thằng tôi-lương-thiện đem lời Mẹ tôi dạy năm xưa ra dông dài kể lể rằng thật thà là cha quỷ quái, rằng tham thì thâm; nó dẫn chứng từ những câu ru của Mẹ qua đến những câu kinh mỗi Chủ nhật tôi vẫn ngoan ngoãn đọc trong nhà thờ. Thằng tôi-gian-manh giỏi toán, nó liệt kê số tiền thuê nhà chưa trả đủ, tiền nợ xe còn thiếu, chiếc xe cần thay thắng mà chưa có đủ tiền… Nó tính toán sao đó mà ra chẵn con số năm trăm rưởi. Chúng nó xô xát tới gần tối, lúc tôi sắp phải thức để đi làm. Trong giấc ngủ chập chờn, bên tai tôi vẫn rì rầm tiếng cầu kinh của Mẹ. Và cái đứa lương thiện vẫn ở cạnh tôi khi tôi giật mình thức giấc.
Ngày hôm sau. Lúc sáng sớm, khi ngọn gió đầu thu vờn nhẹ những ngọn lá phong đang ngả vàng trong nắng mai rực rỡ phố phường, sau khi hoàn tất công việc giao hai trăm tờ nhật báo, tôi về nhà ăn sáng vội vàng và lái xe ngay đến căn nhà có chồng báo bỏ trên lề đường trước nhà mà tôi đã khuân đi đêm hôm trước. Những ngón tay rụt rè trước cái chuông cửa bằng đồng bóng loáng, lòng khấp khởi mong gặp một người đồng hương. Tiếng chuông trong vắt như tiếng gõ vào chiếc ly pha lê. Đầu óc tôi nghĩ ngợi lung tung. Năm trăm năm chục đồng. Số tiền lớn đối với tôi dạo ấy. Có thể là Phượng, người đàn bà – hay cô gái – đồng hương ấy muốn để dành tiền dự tính mua món gì đó nên cất riêng ra để khỏi xài lạm vào. Cũng có thể cô ta là một người đàn bà lấy chồng nước ngoài, lén lút gom góp tiền bạc gửi về cho bố mẹ ở quê nhà. Ý nghĩ ấy khiến lòng tôi chùng xuống. Từ lúc định cư chốn này, tôi chẳng gửi được thứ gì về cho bố mẹ.
Tôi lại bấm chuông và hồi hộp đứng chờ. Cửa mở, một người đàn bà tóc vàng ló ra từ phía sau cánh cửa gỗ đồ sộ. Bà ta nhìn tôi chằm chặp. Tôi thụt lùi một bước. Những câu toan nói đã đặt sẵn ở cửa miệng chợt bay đi đâu hết. Phải mất vài giây tự trấn tĩnh, tôi mới ngập ngừng, “Chào bà. Tôi là người đi giao báo.”
Người đàn bà nhướng đôi lông mày tô đậm như muốn tôi giải thích thêm. Tôi vội tiếp, “Hôm trước, tôi thấy trước nhà bà có một chồng tạp chí.”
Sững lại vài giây, người đàn bà gật đầu, “À, đó là đồ recycle.”
“Tôi đã lấy chồng báo ấy về.”
“Không sao. Đồ recycle ấy mà,” người đàn bà nhanh nhảu. “Cậu không lấy thì xe rác cũng lấy đi.”
“Tôi rất thích những cuốn tạp chí ấy.” Tôi đon đả.
“Tốt lắm.”
“Tôi xin lỗi vì đã ôm chồng báo đi mà không xin phép.”
Người đàn bà khoát tay, miệng tíu tít, “Không sao, không sao. Mấy tạp chí ấy chúng tôi đã xem hết rồi. Chúng tôi mua đủ thứ tạp chí, lâu lâu John, ông chồng tôi, phải đem đi recycle.”
Thì ra John là tên của người khách hàng ở căn nhà đồ sộ này, nơi mà mỗi ngày tôi phải nhét một tờ báo vào hộp thư. Ông John này mua đủ loại nguyệt san, tuần báo và cả nhật báo nữa. Hẳn ông ta cũng mê sách báo, bút mực, và chữ viết như tôi. John là chồng người đàn bà này. Bỗng dưng tôi thấy mình có thiện cảm với ông ta, dù chưa bao giờ gặp mặt.
“Tôi rất mê đọc sách báo, nhưng…” tôi lại tiếp tục lải nhải. “Không có tiền mua nên thấy đống tạp chí bỏ đi thì tiếc rẻ, ôm về nhà.”
Nụ cười nở tròn trên môi người đàn bà. Nụ cười ấy làm tôi yên tâm. Dẫu nó nhuốm mùi cảm thông và pha chút tội nghiệp. Trong đầu tôi lao xao hàng chục câu hỏi và cái câu quan trọng nhất là: Vậy thì Phuong là ai? Nhưng tôi không biết phải đặt câu hỏi như thế nào cho suông.
“Còn gì nữa không?” Người đàn bà hỏi.
Tôi moi cái phong bì trong túi quần, ngập ngừng, “Tôi tìm thấy cái bao thư này kẹp trong một cuốn tạp chí. Xin lỗi bà, tôi không nhớ đó là cuốn báo thể thao, thời trang, khoa học hay tài chính.”
Người đàn bà bước tới một bước, ra hẳn bên ngoài khung cửa, lọt vào vũng nắng, đón lấy bao thư, lật qua lật lại, rồi nhìn chăm chăm vào những chữ nghiêng ngả không bỏ dấu. Những ngón tay bà ta chợt bấu chặt lấy chiếc phong bì như sợ tôi giật lại. Nụ cười biến mất, khuôn mặt đanh lại. “Còn bao thư nào khác không?” Bà ta hỏi, dằn từng chữ, bằng cái giọng bỗng dưng lạnh băng.
Tôi vội vã lắc đầu.
“Cậu có kiểm tra kỹ từng cuốn tạp chí không?”
Tôi hấp tấp, “Tôi tìm kỹ lắm rồi.”
“Cậu có nghĩ còn sót cuốn nào chưa kiểm không?” Người đàn bà gằn giọng.
“Không còn cuốn nào chưa kiểm. Tôi đã lật hết năm mươi hai cuốn báo…”
“Nhiều vậy à?”
Tôi lúng túng gật đầu.
Người đàn bà mở bao thư, hai con mắt nâu trợn tròn. Những tờ giấy bạc hai chục màu xanh lấp lánh dưới ánh nắng sớm mai như những vật thể tự thắp sáng luồn ra từ khung cửa một con tàu không gian của người ngoài hành tinh trong những phim ảnh thường thấy trên truyền hình.
“My God! My God!” Người đàn bà lẩm bẩm. Ánh mắt sắc lạnh xuyên thủng những tờ giấy bạc. Rồi bà ta ngẩng lên nhìn tôi, “Còn nữa không?”
Tôi vội vã lắc đầu. Người đàn bà buông rơi cái bao thư xuống sàn nhà và bắt đầu dùng cả hai tay đếm cọc tiền. Tôi thấy bà ta đếm một lần, rồi lại đếm thêm lần nữa. Chắc bà ta cũng đếm nhầm như tôi hôm trước. Lúc bà ta sắp sửa đếm lần thứ ba, tôi đánh bạo hỏi, “Phải bà là Phuong không?”
“Tôi hả, tôi mà là Phuong hả,” người đàn bà sừng sộ. “Tôi mà là con chó cái đó hả? Lão John này to gan lớn mật, lão đã hứa không liên lạc với nó nữa, vậy mà lại còn giấu tiền… như thế này… My God!”
Một tay người đàn bà bóp chặt nắm tiền, tay kia đặt lên trán, ngón trỏ và ngón cái day day hai bên thái dương như tôi vẫn làm để xoa dịu cơn nhức đầu, miệng rên rỉ, “My God! My God!”
Mặt đất bỗng sụp dưới chân, tôi lạc vào cơn địa chấn mơ hồ, lạ lẫm. Tôi lao đao chóng mặt. Tai tôi ù đi. Và tôi chợt nhận ra mình vừa mới đem tai họa đến cho một gia đình không quen biết. Nhưng bây giờ thì đã quá muộn. Biết vậy, tôi giữ mấy trăm bạc ấy để xài có phải hơn không? Tiếng cãi cọ hồi đêm của thằng-tôi-gian-manh và thằng-tôi-lương-thiện lại láo nháo bên tai. Tôi nghe rõ cái giọng sang sảng của thằng-tôi-gian-manh: Thấy chưa, thật thà nữa đi!
Người đàn bà rút một tờ hai chục trong xấp tiền, giúi vào tay tôi, “Thank you!”
Tôi rụt tay lại và vội vã lắc đầu. Tôi lắc đầu thật mạnh như lần ngoi lên từ ngọn sóng trong Vịnh Thái Lan, cố vẩy hết lớp rong biển bám trên mặt. Tôi lắc mạnh đến nỗi tòa lâu đài xinh xắn của vợ chồng ông John quay vòng quanh tôi, khiến tôi lao đao suýt ngã.
Tôi lắc vậy mà hình ảnh tờ giấy bạc hai chục đồng màu xanh vẫn cứ vướng hoài trong mắt.
260706
Hoàng Chính
*
Mời nghe nhạc:
Ca khúc "Tụng Ca" trên Youtube: Thơ Trần Yên Hòa
https://www.youtube.com/watch?v=vO39a8Of7k8
Thks.
TYH
Comments
Post a Comment