Nghìn Trùng - Ngô Nguyên Dũng

 Nguyen Trung Gallery

tranh nguyễn trung

 

"Ngày … tháng … năm …

Tôi sẽ không bao giờ quên khoảng thời gian trọ học trong một ký túc xá sinh viên nằm trên đỉnh đồi thấp ngoài phố chính. Phòng trọ khoảng hơn mười lăm mét vuông, nhưng đầy đủ tiện nghi. Một phòng khách có ghế sa-lông kéo ra làm giường ngủ. Một bàn con. Một bàn học, một ghế ngồi và kệ sách. Một phòng vệ sinh có bồn cầu, bồn rửa mặt gắn tấm gương con và bệ tắm vòi sen với hai nguồn nước nóng lạnh. Một tủ quần áo hai cánh. Cạnh cửa ra vào là góc bếp hai lò, một tủ treo đựng chén dĩa, một tủ lạnh và một bồn rửa chén. Tiền phòng gồm điện nước chỉ hơn một trăm Đức mã, vậy mà gần như tháng nào tôi cũng nhận được thư khuyến cáo của phòng kế toán ký túc xá.

Tôi yêu khung cửa sổ rộng, bên dưới gắn hệ thống sưởi. Trên bệ cửa được tôi trưng bày vài chậu hoa và một chậu lớn dăm rau răm và rau húng lủi. Cánh cửa mở ra cảnh trời bốn mùa bên ngoài. Những ngày hè cuối tuần nắng ấm, tôi dời mấy chậu cây qua bên, lên ngồi bệ cửa hứng gió hoặc theo dõi các bạn chơi bóng chuyền trong sân cỏ bên dưới. Trong những lần không bận bịu chuyện thi cử, tôi và vài bạn đồng hương đàn đúm nấu ăn chung, bia rượu, đàn hát tưng bừng. Toàn một lũ con trai xa nhà, thanh xuân phơi phới. Đứa lãnh phần nấu, đứa khác rửa chén. Tôi bày vẽ chuyện nấu  nướng, để tránh chuyện rửa chén và dọn dẹp sau đó. Bia đã chất đầy một ngăn tủ lạnh. Sau khi hơi men ngây ngất, một đứa đệm tây ban cầm. Ai thuộc bài nào, hát bài nấy. Một "Con Đường Mang Tên Em" sướt mưới. Một "Đám Cưới Đầu Xuân" rộn ràng. Một "Khi Em Nhìn Anh" nồng nàn. Một "Người Em Sầu Mộng" tình tứ. Cứ vậy cho tới khi mềm môi, để nguyên quần áo rã rượi lên giường nằm, huyễn mộng về những nẻo đường nhiệt đới bỏ lại sau lưng.

Những đêm ấy, tôi thường chiêm bao thấy mình tằng tịu với một người không rõ giới tính."

Một giọng đàn bà cất lên bên kia đường dây. 

"Chào bà, tôi tên là Lam. Tôi gọi vì đọc được mẩu tin trong nhật báo thành phố", anh tự giới thiệu. Những dòng ngắn gọn hiện ra trong trí: "Tìm người giúp việc bếp núc ngày thứ bảy và chủ nhật. Nam hoặc nữ. Ưu tiên cho sinh viên gốc Á châu. Lương giờ. Thêm tiền di chuyển. Số điện thoại liên lạc …"
"Cho tôi được phép hỏi, anh là người nước nào?", người đàn bà hỏi giọng run run.
"Tôi tới từ Việt Nam, thưa bà."
"Vậy à? Cuối tuần nầy anh tới nói chuyện được không? Tôi đọc cho anh địa chỉ nhà. Chủ nhật tới, khoảng bốn giờ chiều", bà nói như ra lệnh.

Sau vài phút trò chuyện ngắn gọn, tâm trí anh thoáng ngẩn ngơ. Dẫu chưa gặp mặt, nhưng thâm tâm anh dường như vừa nhú lên những chồi non lạc quan. Những lo âu về khoản tiền sắp cạn kiệt trong trương mục lắng xuống. Thư khuyến cáo của văn phòng kế toán ký túc xá vẫn nằm trâng tráo trên mặt bàn. Trong tủ lạnh chỉ còn một nửa chai nước cam, một bịch con sữa uống cà-phê, một phần tư bắp cải và một ít thịt heo bằm. Chai dầu sắp hết. Chai nước tương Maggi còn một phần ba. Gạo hạt dài còn hai bịch, mỗi bịch một kí-lô gam. Muối, tiêu, đường, cà-phê, … còn đủ dùng vài tuần. Và không hiểu sao, nét mặt khinh khỉnh của gã nhân viên lo việc giấy tờ cho lũ sinh viên ngoại quốc hiện lên trong trí, khi anh tới hỏi xin giấy tờ trợ cấp hằng tháng.

"Anh đem mẫu đơn nầy về điền, kèm theo bản phóng ảnh ba chứng chỉ của lục cá nguyệt vừa qua và hai tờ giới thiệu ngắn gọn của giáo sư phụ trách. Xong, đem nộp và chờ cứu xét."

Ngôi nhà nằm trong một ngõ cụt. Từ ký túc xá sinh viên đi bằng xe buýt mất hơn nửa tiếng. Lúc anh tới, thời tiết cuối tháng sáu rực rỡ nắng ấm. Xe buýt xuyên qua những cánh đồng cải vàng ngút ngàn. Ngôi nhà nằm trong ngõ vắng, yên tĩnh như còn nấn nán sau giấc trưa. Nhà một tầng, mái lợp ngói xám, tường vôi trắng khoét những ô cửa hẹp chấn song sắt, rèm voan phủ trắng sau mặt kính. Bảng con ghi tên chủ nhà: Michael và Dora Schenk. Anh tần ngần giây lát, rồi giơ tay bấm chuông. Hồi chuông gióng lên trong trẻo. Vài giây sau, tiếng chân vang lên chậm rãi sau khung cửa lắp kính đục. Cửa mở rộng. Một người đàn bà luống tuổi với khóe cười chào đón hiện ra trước mặt anh.

"Chào bà, tôi là Lam, người nói chuyện điện thoại với bà vài hôm trước", anh gật đầu, thốt giọng máy móc như trẻ con trả bài thuộc lòng.
"Mời anh vào nhà. Tôi trân trọng những người đúng giờ", bà ôn tồn. "Anh không cần tháo giày đâu. Anh vào phòng khách ngồi đợi chút, chờ tôi đem nước rồi chúng ta sẽ nói chuyện chi tiết."

Phòng khách rộng thoáng, có cửa trông ra mảnh vườn sau nhà. Vườn cỏ, cây cảnh được cắt tỉa tươm tất. Một tượng đèn lồng bằng đá xám dựng bên ao nước con cỏ lau phất phới. Lối đi lát gạch ngoằn ngoèo. Một thân cây rũ lá che mái nhà kho, vách ván sơn lục sẫm. Vài bụi hồng trắng vàng chen chúc. Khung cảnh được sắp đặt gọn gàng, sạch sẽ, như được sát trùng… Tâm tư anh thoáng chút mẫn cảm khi thấy đôi bướm trắng theo nhau rập rờn trên bụi hoa hồng. Rồi mất dạng sau hàng rào thủy tùng phẳng ngọn.

Anh đảo mắt quan sát phòng khách. Tường treo nhiều tranh ảnh. Nhiều bức họa cảnh đông phương. Nhịp tim anh rộn lên khi nhận ra những đường nét quê nhà quen mắt. Trong tủ kính thấy bày biện nhiều món cổ ngoạn và một tượng Phật Di Lặc bằng gốm men xanh. Và, dường như phảng phất trong không gian những hơi ấm và mùi đất pha lẫn hương hoa trái nhiệt đới. Tựa như cảm xúc gần gũi, ngây ngất của những giấc chiêm bao sau những cuộc rượu quá đà. Thứ cảm xúc thấy lại những vùng trời, những xẻo đất, những khuôn mặt, những hình bóng, và hơi hướm của cơn mưa đầu mùa, hương mồ hôi hắc ín những trưa nắng, mùi nhang đèn những đền chùa, những phố chợ lao xao…  

Không lẽ…? Anh thầm hỏi.

"Khi nào anh bắt đầu tới làm?", bà Schenk nói thẳng. Không đợi anh trả lời, bà tiếp lời: "Cuối tuần tới được không?"

Anh bối rối, chưa biết phải trả lời sao. Mọi việc xảy ra chóng vánh như đường lóe một cơn chớp, chưa kịp phản ứng thì tiếng sấm đã vang dội kinh thiên.

"Tôi trả anh mười lăm Đức mã một giờ. Hôm nay tôi sẽ đưa trước cho anh năm mươi Đức mã dùng mua nguyên liệu nấu nướng. Món gì tùy anh. Tôi rất thích thức ăn á châu và không bị dị ứng với bất cứ thứ gì. Mọi chi phí, anh nhớ ghi chép và tính toán cẩn thận, rồi cho tôi biết mỗi cuối tháng. Nếu anh cần, tôi sẽ trả lương hai tuần một lần. Bây giờ anh theo tôi vào bếp, xem xét dụng cụ nấu nướng, tủ cất gia vị, chén dĩa cũng như cách sử dụng lò điện và máy rửa chén."

"Ngày … tháng … năm …

Cũng như các bạn đồng môn khác, tôi dành ba tháng hè hằng năm để đi làm. Tôi làm nhiều việc khác nhau: Thợ tiện, thợ khuân vác trong hãng bia, đi dọn dẹp sân vận động, chăm sóc hoa viên thành phố, thợ giúp việc trong kho của một tiệm bán giày dép, đi bỏ giấy quảng cáo vô thùng thư, làm vệ sinh chuồng chuột bọ được nuôi làm thí nghiệm trong một hãng bào chế dược phẩm, và trong những năm học cuối cùng, làm thợ đóng gói trong một hãng in. Việc nhẹ, làm theo ca, lương vừa phải, nhưng vui vì có nhiều bạn làm chung. Đôi khi người thợ trưởng còn cho mấy thằng chúng tôi giữ nguyên một máy đóng và gắn móc những cuốn lịch cho năm tới. Chúng tôi thường hỏi xin làm ca đêm để có thêm chút tiền phụ trội.

Khoảng thời gian nầy, tôi thường xuyên tiếp xúc với người bản địa. Thiện cảm của tôi dành cho họ giảm dần. Đã bao phen, không rõ vì lý do gì, tôi bị thằng thợ đứng máy hiếp đáp tới độ tôi, một thằng con trai rụt rè đa cảm như một khúc hát ngũ cung, trong giờ nghỉ giải lao đã phải rươm rướm nước mắt tìm tới người thợ trưởng, hỏi xin làm một việc khác, nếu không, tôi nghỉ việc.

Những va chạm lận đận với đời sống cơm áo đã biến tôi thành những nhân vật ghi chép trong sổ tay, trong những trang chữ văn chương, với một cái tên khác. Là Khải trong 'Đêm'. Là nhân vật xưng tôi trong 'Âm Bản'. Là Đặng Tường trong 'Khung Cửa Nắng'. Là Lâm trong 'Ngàn Năm Trong Khoảnh Khắc'.

Là

'Nửa tôi nửa bóng chỉ là,
Bài thơ dang dở vào ra ngậm ngùi.'

Những khoảnh khắc ấy, tôi lại nhớ tới bà má nuôi người bản địa thường xuyên liên lạc thư từ với tôi, với tờ giấy bạc hai mươi Đức mã kèm theo mỗi tháng. Tôi ân hận hoài một chuyện, không được đưa tiễn bà về nơi an trú sau cùng, khi bà cùng người con gái rời Hemer, qua sống tại miền đồi núi Süd-Tirol."

*

Món ăn đầu tiên được anh nấu trong gian bếp nhà bà Schenk là một món ăn mùa hè: Gỏi cuốn.

Thay cho thịt ba rọi, anh dùng thịt heo phi-lê luộc. Vài con tôm không vỏ được hấp và xẻ đôi theo chiều dọc. Trụng chín một ít bún khô. Rau cuộn chỉ có xà-lách và húng lủi được hái từ chậu rau trên bệ cửa sổ phòng trọ.

Sốt tương đen được anh cho thêm một ít nước cốt dừa. Tỏi băm nhuyễn được phi vừa ngả vàng, anh cho tương đen vào, thêm một ít bơ đậu phộng, một ít nước me, nấu sệt lại. Sau cùng rưới thêm vài giọt nước mắm, nêm nếm theo khẩu vị quen. Đậu phộng rang giã nhuyễn, đổ vô chén con.

Anh nhúng nước bánh tráng, cuốn gỏi. Tuy thiếu hẹ và nhiều loại rau sống, nhưng món ăn được anh chế biến, không phải bằng kỹ năng của một đầu bếp chuyên nghiệp, mà bằng xúc cảm của hoài niệm, trông vẫn gọn gàng, đẹp mắt như những phiến thời gian đằm đẵm hương vị những món ngon quê nhà trong trí nhớ. Được ghi dấu bằng bàn tay, được nếm nếm bằng khẩu vị của má, của dì, của người chị họ trong những năm tháng trẻ thơ, anh thường lân la trong bếp, theo dõi cách thức nấu nướng từng món ăn. Cách xắt da heo luộc và thịt khìa làm món bì. Cách trộn nhưn cuốn chả giò. Cách pha bột tráng bánh xèo lửa than. Cách nấu chè chuối chưng. Cách thắng nước màu nấu món thịt kho trứng.

Những miếng thịt heo luộc vừa chín tới được anh thái lát mỏng, bày lên khoanh bánh tráng nhúng nước, đem cuộn chung với xà-lách, rau húng, bún thành từng cuốn vừa vặn, sắp lên lòng dĩa men trắng.

Nước luộc thịt được anh dùng nấu món súp cà chua trứng. Anh phi một ít hành tây xắt lát mỏng, cho thêm một ít bột ớt chuông, đảo sơ, đổ vô nồi súp. Nước súp ánh lên sắc đỏ thiết tha như tấm lòng anh chưa phôi phai những khuôn mặt, bàn tay và hương bếp vui vầy ngày xưa ấy. Nhớ không nguôi vầng trán và hai cánh mũi má rịn sương mồ hôi, khói bếp than non hoen ướt khóe mắt. Nhớ ngón tay trẻ con anh lột vỏ đậu phộng rang, thỉnh thoảng lén bốc một hột bể, bỏ vô miệng. Nhớ luồng nắng tươm khói len qua khung cửa bếp, tưởng như quang cảnh mộng mị một giấc chiêm bao … Tất cả những hình ảnh, những âm thanh, những hương vị, những cảm xúc xa xưa khua thức ngũ quan anh, từng chi tiết một, như những dòng ghi chép rõ ràng ngày tháng năm.

Trong khi anh cuốn gỏi, bà Schenk bày biện bàn ăn trong phòng khách. Một dĩa con nằm trong một dĩa lớn. Một chén con. Tất cả đều tráng men trắng. Đũa mun và muỗng con đặt nằm trên khăn ăn bằng vải trắng ngà. Một ly pha lê. Chai nước suối vừa lấy ra từ tủ lạnh, hơi nước tươm lóng lánh thành chai.

Chỉ cho hai người.

Hôm ấy, sau món súp, bà Schenk ăn ba, anh bốn gỏi cuốn. Bà luôn miệng khen ngon. Phần còn dư, bà Schenk bảo anh gói lại, đem về.

Dọc đường, anh không ngớt tự hỏi, ai là Michael Schenk thấy khắc trên bảng tên gắn cạnh nút chuông bấm trước cửa nhà?

*

Sau bữa ăn trưa cuối tuần lần ấy, bà Schenk mời anh ngồi ghế sa-lông trong phòng khách. Bà rót trà ra tách. Hương trà sen đằm đằm.

Bà trao anh phong bì tiền lương cho hai tuần vừa qua. Anh nhỏ giọng cám ơn, nâng tách trà lên miệng. Giọng người đàn bà khe khẽ, trầm trầm, như độc thoại:

"Những năm đầu thập niên một chín năm mươi, chồng tôi là một ký giả chiến trường. Ông là một người yêu nghề và năng động, thích cảm giác mạnh, rành rẽ Pháp ngữ. Lẽ đó ông đã được một nhật báo lớn ở Paris cho qua Đông Dương viết phóng sự. Hợp đồng một năm. Rồi được gia hạn thêm một năm. Ông kể lại, năm một chín năm bốn, ông theo chân quân đội Pháp để chụp ảnh và viết bài cho trận Điện Biên Phủ. Tưởng chỉ là một cuộc chiến bình thường, đâu ngờ lại là trận giao tranh then chốt kéo dài nhiều tháng trời. Người Pháp thua cuộc, trở về nước. Chồng tôi sống sót, trở lại Sài Gòn, là chứng nhân cho một đất nước Việt Nam, tuy độc lập nhưng bị chia đôi thành hai miền Nam Bắc. Cho tới năm một chín năm mươi bảy, ông mới trở về Đức."

Anh ngẩn ngơ lắng tai nghe bà Schenk thuật chuyện. Những chi tiết như trong tiểu thuyết. Rồi, anh ngước mặt, lướt mắt thoáng nhìn những tranh ảnh, đồ vật trưng bày trên tường, trong tủ kính phòng khách. Ý thức anh trở gió. Mưa nắng nhiệt đới rạt rào cảm xúc theo những nghiệt ngã của thời thế, những trăm năm bất hạnh trên mảnh đất quê hương.

Chỉ còn lại khóe mắt tươi vui, nụ cười nhân hậu trên khuôn mặt phúng phính của tượng Phật Di Lặc.

"Chồng tôi qua đời bảy năm trước. Trước khi nhắm mắt, ông mới thố lộ cho tôi biết, trong khoảng thời gian ở Việt Nam, ông đã sống chung với một phụ nữ Việt Nam, có với nhau một đứa con trai. Có lẽ xấp xỉ tuổi anh hiện nay." 

Bà Schenk ngưng lời, thở hắt như vừa buông xả gánh nặng tâm tư, nhìn thẳng vào mắt anh. Chỉ vài giây mà tưởng như nghìn trùng.

Trước khi chia tay, bà đưa cho tôi chiếc chìa khóa móc miếng nhựa con ghi tên bà, dặn dò:

"Chìa khóa nhà tôi. Anh cứ tự nhiên vào nhà làm việc, phòng khi tôi vắng nhà."

*

"Ngày … tháng … năm …

Mùa đông năm ấy, sau hai tuần đi thăm bạn nhân lễ Giáng Sinh, tôi nhận được lá thư ghi tên một người đàn bà lạ. Chỉ vài dòng ngắn gọn. Tôi gấp thư lại, bước tới cửa sổ, nhìn ra ngoài. Trời đang mưa tuyết. Những bông tuyết va vào khung kính ấm hơi máy sưởi, nhòe nhạt lệ thời tiết.

Thư của một người láng giềng của bà Schenk, báo tin bà vừa qua đời sau một cơn chấn động não, được chở vào bệnh viện cứu cấp. Bà qua đời sau đó vài hôm. Trước khi nhắm mắt, bà còn kịp nhắn nhủ người hàng xóm biên thư báo tin cho anh hay. Thư ghi kèm số điện thoại. Tôi gọi nói chuyện, hẹn chủ nhật sẽ tới trao trả chìa khóa nhà bà Schenk.

Tôi tới bấm chuông nhà người láng giềng, ngỏ ý muốn vào nhà bà Schenk nhìn ngắm lần cuối cùng. Dường như cảm nhận ra niềm xúc động và vẻ mặt quyến luyến của tôi, người đàn bà cất tiếng:

"Anh có muốn lấy một món đồ vật về làm kỷ niệm không?"

Tôi lẳng lặng gật đầu, tới mở tủ kính, cầm tượng Phật Di Lặc cất vô ba-lô.

Con đường cụt hôm đó phủ tuyết trắng xóa. Chỉ mỗi mình tôi lầm lũi. Chân tôi dẫm lên tuyết, từng bước khẽ khàng như những âm thanh còn ấm hương lửa những mùa màng nhiệt đới và gương mặt, giọng nói của bà Schenk."

*

Cuối hè năm sau, anh hoàn tất học trình cử nhân, phải dọn ra ký túc xá sinh viên. Chỗ trọ mới của anh là một gian phòng nằm dưới mái ngói, trong một ngôi nhà ba tầng. Một vách phòng nằm nghiêng. Ba ô cửa hẹp khoét nghiêng, lắp kính đôi, ngược hướng đông, rực rỡ những chiều nắng.

Lúc anh sắp xếp vật dụng từ mấy thùng cạt-tông, lấy ra tượng Phật Di Lặc. Anh cầm lên, nhìn quanh, tìm chỗ trưng bày. Bất chợt anh cảm nhận có vật gì xộc xệch trong lòng tượng. Anh lật tượng. Dưới đáy, một miếng bìa cứng dán khéo. Anh bóc băng keo, trút ra.

Một cuộn giấy bạc quấn dây thun rơi xuống mặt thảm. Anh bất động vài giây, rồi thẫn thờ đặt tượng lên kệ sách.

Hai mắt anh khép lại. Hồn phách anh vất vưởng nơi đâu. Những khuôn mặt và hình ảnh quá khứ hiện ra trong trí. Tưởng gần. Mà xa xôi nghìn trùng.

 

(08.2026)

Ngô Nguyên Dũng

Comments

Popular posts from this blog

Bài trăm năm - Trần Yên Hòa

Mẹ đi về phía hoàng hôn - Trần Yên Hòa

Truyện cực ngắn - Mã Lam