Sài Gòn, những trang sách không chịu già - Nguyễn Đông A

 

 

THÀNH PHỐ SÁCH CỦA TUỔI THƠ

 

Những buổi trưa Sài Gòn nắng đổ chang chang trên mặt đường Lê Lợi, mà tôi cứ nhớ mãi cái cảm giác len lỏi qua cánh cửa gỗ của nhà sách Khai Trí, số 60 – 62 đại lộ Bonard ngày trước, để bước vào một thế giới khác hẳn ngoài kia.

 <!>

Với một đứa con nít như tôi hồi đó, đây chẳng khác nào bước chân vào một “thành phố sách” thu nhỏ, sách bày la liệt, kệ kê sát nhau thành từng hàng từng lớp, người ra vào tấp nập mà vẫn chừa được một góc nhỏ cho mấy đứa trẻ ranh ngồi bệt xuống sàn, “đọc ké” cho đã đời, không cần mua cũng chẳng ai rầy.

Tôi nhớ mình hay lật tới lật lui, đắn đo coi nên đọc gì trước, đọc gì sau, rồi cuối cùng mới dám rụt rè xin người lớn mua cho một cuốn. Những ngày ấy tôi mê Lucky Luke, gã cao bồi bắn súng lẹ hơn cả cái bóng của chính mình, mê hai chàng hiệp sĩ Lữ Hân – Phi Lục, mê Xì Trum, Tintin, mê Phan Tân – Sĩ Phú, rồi Astérix và Obélix. Những trang bìa báo do họa sĩ Vi Vi hay Đinh Tiến Luyện vẽ, tôi ngắm hoài không chán. Tủ sách Tuổi Hoa, sách Hoa đỏ, mấy cuốn trinh thám thám hiểm như Pho tượng rồng vàng, Ngục thất giữa rừng già… cứ thế mà ngấm vào tôi từ hồi nào không hay.

Chuyện “đọc mà không mua” ấy, sau này tôi mới thấm, không phải chuyện dễ mà một hiệu sách bình thường dám làm. Đó là lối bán hàng tự chọn đầu tiên ở Việt Nam, khách đứng đọc hàng giờ rồi ra về tay không cũng chẳng sao, nhân viên nữ mặc đồng phục, ân cần mà kín đáo, trông chừng chứ không dòm ngó. Ngày nay chuyện ấy thành chuyện thường ở hầu hết các nhà sách, nhưng hồi đó là mới mẻ dữ lắm, mới tới mức mà nhờ nó, tiệm sách nhỏ ngày nào mới dần nới rộng ra thêm hai căn liền kề, cất cao thêm mấy tầng lầu.

Giờ nhắc lại, tôi vẫn còn nghe văng vẳng cái mùi giấy mới, mùi mực in, cái mùi mà một đứa con nít nhớ hoài tới tận già. Ký ức tuổi thơ là vậy, nó không cần lý do, chỉ cần một mùi hương, một góc kệ sách, cũng đủ neo cả một quãng đời.

NGƯỜI GIEO CHỮ TỪ HAI BÀN TAY TRẮNG

Sau này tôi mới hay, ông chủ nhà sách ấy tên thật là Nguyễn Hùng Trương, sinh năm 1926 ở Thủ Đức, người ta quen gọi bằng cái tên gắn liền với sự nghiệp của ông, “ông Khai Trí”. Ông cũng chính là chủ tờ báo Thiếu Nhi mà tôi mua đọc đều đặn mỗi tuần, tờ báo mời được nhà văn Nhật Tiến, tác giả Chim hót trong lồng, về làm chủ bút.

Thuở nhỏ, ông Trương nhịn ăn sáng, dành hai đồng xu mẹ cho để mua báo đọc. Lên Sài Gòn học trung học Petrus Ký, nhà sắm cho chiếc xe đạp cũ, cuối tuần đạp về, đầu tuần trở lên mang theo món tiền tiêu dè sẻn cả tuần. Vậy mà cứ chiều thứ hai là ông tiêu sạch vào sách báo, rồi nhịn đói cả tuần, chỉ uống nước lã cho đỡ cồn cào. Sách ông mua phần nhiều là sách nước ngoài, tới thập niên 1940 đã gầy dựng được một tủ sách kha khá. Bạn bè thấy hay, nhờ ông mua giùm. Một lần tôi năm người nhờ, ông mua tới mười cuốn để hưởng ba mươi phần trăm hoa hồng, số dư đem ký gửi ở quán sách. Ba bữa sau chủ quán hỏi còn không, vì sách gửi trước bán sạch rồi. Từ cái duyên nhỏ ấy, ông nảy ra ý định mua sách báo nước ngoài về gửi bán, chọn toàn loại sách quý, hiếm, người ta cần mà trong nước không có.

Cứ vậy, tích cóp từng đồng, tới năm 1952 ông đủ vốn mở một hiệu sách nhỏ ở số 62 đại lộ Bonard, đặt tên Khai Trí. Từ một cậu học trò nhịn ăn sáng mua báo, ông trở thành người kinh doanh ngành sách lớn nhất nhì Sài Gòn, rồi không dừng ở đó, ông bước tiếp qua vai trò nhà xuất bản, cho ra đời loạt sách “Học làm người” quy tụ những cây bút uy tín đương thời như Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Duy Cần, Hoàng Xuân Việt, Phạm Cao Tùng. Ông còn có cái thú sưu tầm sách báo khá kỳ công. Riêng tờ Le Monde tiếng Pháp, ông giữ từ số đầu tiên cho tới tận ngày 30/4/1975, cộng thêm bộ Paris Match từ số 1, trong đó lưu biết bao hình ảnh quý về cuộc chiến của Pháp ở Đông Dương. Trong kho ông còn có 4.000 trang bản thảo từ điển tiếng Việt và gần 300 bản thảo sách đang chờ in.

Người quảng bác đến vậy mà lại ít nói về mình, nên chẳng mấy ai biết rõ ông chính là tấm gương sống động của một kẻ đi lên từ hai bàn tay trắng. Tôi lại thấy cái nghiệp sách của ông không phải chuyện làm ăn đơn thuần, mà là một mối tình. Mối tình với con chữ, bền bỉ tới mức nhịn đói cũng cam, cả đời cứ đau đáu muốn đem sách hay đến cho người đọc.

MỘT KIẾP SÁCH, MỘT KIẾP NGƯỜI

Rồi biến cố 1975 ập tới, nhà sách Khai Trí cùng toàn bộ tài sản, nhà cửa của ông bị tịch thu, bản thân ông cũng bị bắt. Chung số phận với ông còn có những người khác trong ngành phát hành sách báo Sài Gòn năm ấy như ông Nguyễn Văn Chà của nhà tổng phát hành Nam Cường, ông Tư Bôn của cơ sở phát hành Thống Nhất. Mặt bằng nhà sách sau đó chuyển thành Nhà sách Sài Gòn, thuộc Fahasa.

Ra tù, ông được sang Hoa Kỳ đoàn tụ gia đình, sống ở California. Nhưng cái nghiệp sách vẫn đeo bám ông tận xứ người, chẳng chịu buông. Ông từng được cho phép đứng tên xuất bản một “Tuyển tập thơ tình chọn lọc”, báo chí trong nước cũng từng viết về ý định kinh doanh sách của ông, nhưng rồi mọi chuyện cũng chẳng đi tới đâu. Mang tiếng sống ở Mỹ, nhưng kỳ thực thời gian ông ở Việt Nam nhiều hơn ở xứ người. Ông ở Việt Nam ít nhất ba tháng, có năm gần trọn mười hai tháng. Về già, khi gần tuổi bảy mươi, ông càng về nước thường xuyên hơn, để rồi cuối cùng quyết định làm lại giấy chứng minh nhân dân, xin hộ khẩu thường trú, xin nhập lại quốc tịch Việt Nam, định cư hẳn.

Ông từng trải lòng: “Tôi thấy dù có đi đâu cũng không bằng quê nhà. Càng lớn tuổi cái tình với quê hương càng sâu nặng… Những năm tháng còn lại của đời tôi, tôi mong ước được cống hiến hữu ích cho xứ sở trên lĩnh vực văn hóa.” Ông dự tính, số tiền lời kiếm được từ việc mở lại nhà sách sẽ dùng làm từ thiện, cấp học bổng cho học sinh sinh viên nghèo hiếu học, giúp bệnh viện, trường học, và giúp cả những nhà văn khó khăn muốn in sách. Riêng mười năm từ 1993 đến 2003, dẫu tuổi đã cao, ông vẫn tuyển chọn biên soạn được chừng mười lăm cuốn sách, từ Thơ tình Việt Nam và thế giới chọn lọc đến Những bài thơ hay trong văn chương Việt Nam.

Nhưng kho sách báo quý giá một thời của ông, tiếc thay, phần lớn đã thất tán. Và người đàn ông mang trong mình niềm đam mê mãnh liệt với sách báo ấy, cuối cùng cũng đã ra đi, năm 2005, khép lại một đời người gắn chặt với từng trang giấy. Tôi cứ nghĩ mãi, một đời người có thể mất tất cả, nhà cửa, tài sản, cả tự do nhưng cái nghiệp, cái tình với chữ nghĩa thì không ai tước đoạt được. Ông Khai Trí mất đi thân xác lẫn cơ nghiệp, nhưng cái tên “ông Khai Trí” thì còn sống mãi trong ký ức bao thế hệ học trò Sài Gòn cũ, trong đó có tôi.

PHỐ SÁCH CŨ, NƠI CHỮ NGHĨA TRÔI DẠT

Chợ sách cũ Đặng Thị Nhu. Nguồn ảnh: internet.

 

Sách báo cũ ở Sài Gòn, nhất là từ khi nhà sách Khai Trí không còn, dường như cũng có một đời sống riêng, lặng lẽ mà dai dẳng. Trước năm 1975 và cả nhiều thập niên về sau, chúng từng dạt qua những “chợ sách chạy” trên vỉa hè góc Lê Lợi – Nam Kỳ Khởi Nghĩa, một thời đông đúc người mua kẻ bán; rồi tụ về Đặng Thị Nhu ở Quận 1, nơi giới mộ điệu, văn nghệ sĩ sau 1975 thường lui tới. Sau nhiều lần dời đổi, dòng sách cũ ấy cuối cùng “trôi” về Trần Nhân Tôn, Quận 5, neo lại trong những tiệm sách lâu năm như Hiếu Ngọc, Phước Hậu.

Tôi có dịp ghé con phố sách cũ Trần Nhân Tôn ấy. Người bán kể, chừng hai mươi năm trước, sách cũ còn bày rải rác bên lề đường, xen giữa vài tiệm nhỏ. Rồi người tìm sách ngày một đông, cái thú “săn” những cuốn đã mất dấu ngoài thị trường cũng nhiều lên, các cửa hàng mới lần lượt mọc ra. Cứ vậy, chẳng ai quy hoạch hay sắp đặt từ đầu, một con phố sách cũ tự nhiên mà thành.

Trong số những tiệm tôi ghé có một nơi đặc biệt, bởi nghề bán sách đã truyền qua ba thế hệ. Chuyện bắt đầu sau năm 1975, khi một người phụ nữ đẩy chiếc xe chở sách cũ đi bán dọc đường Trần Nhân Tôn. Thấy nghề nuôi sống được gia đình, đến năm 1994 bà mở hẳn cửa tiệm. Về già, bà giao lại cho con rể. Bây giờ, người đứng giữa những chồng sách cao ngất ấy là đứa cháu ngoại mới hai mươi lăm tuổi.

Đứa cháu từng làm bartender, rồi thấy cha mẹ đã nhiều năm vất vả với cửa tiệm nên trở về tiếp quản để họ được nghỉ ngơi. Lớn lên giữa những chồng sách cũ, quen mùi giấy đến mức rồi thương luôn cái mùi ấy, anh nói một câu tôi còn nhớ: “Dù tiếp xúc nhiều với mạng xã hội, nhiều môi trường giải trí khác nhau… tôi yêu những cuốn sách cũ này… luôn dành thời gian để lắng lại đọc một cuốn sách trước khi ngủ.” Nghe vậy mới hiểu, với anh, sách đâu còn đơn thuần là món hàng. Nó là gia tài của bà ngoại để lại, là công sức của cha mẹ, rồi tới lượt mình nhận lấy mà giữ gìn. Một nghề buôn bán, khi truyền qua ba đời, tự nhiên cũng thành một phần gia phả của gia đình.

Gian nhà sâu hun hút, sách chất từ ngoài vào trong, cao thấp chen nhau, chỉ chừa một lối nhỏ vừa đủ người len qua. Người lạ nhìn vào có khi hoa cả mắt, tưởng muốn tìm một cuốn sách chắc phải mất cả buổi. Vậy mà khách vừa buông tên, người bán đã biết phải lần vào đâu, rút ở chồng nào. Cứ như hàng ngàn cuốn sách kia tuy nằm lộn xộn trước mắt người ngoài, nhưng trong đầu họ, mỗi cuốn đều đã có sẵn một chỗ của mình. Dọc Trần Nhân Tôn bây giờ còn hơn chục tiệm sách cũ nằm gần nhau. Sách, báo, tạp chí, truyện tranh đủ loại, phần nhiều đã ngả màu thời gian. Nguồn sách cũng muôn nẻo: từ người thu mua đồ cũ, những tủ sách gia đình không còn người giữ, cho tới sách thư viện thanh lý. Bởi vậy, người mê sưu tầm chịu khó lục tìm đôi khi bắt gặp những đầu sách đã ngừng in từ lâu, tưởng chẳng còn đâu nữa.

Giá sách ở đây lại rẻ đến bất ngờ. Sách chỉ vài ngàn đồng, truyện tranh cũ hai chục năm tuổi cũng chỉ mươi, mười lăm ngàn một cuốn, nguyên bộ chừng vài trăm ngàn. Một số loại sách người ta bán luôn theo ký, chẳng buồn tính từng cuốn. So với sách mới, nhiều món rẻ hơn hai ba lần. Nhưng cái thú của người tìm sách cũ hình như không nằm hết ở chuyện rẻ. Chính vì những cuốn quý goài kia đã không còn bán nữa.

Một người cha thường ghé mua truyện cho con kể rằng nhiều bộ đứa nhỏ thích đã ngừng xuất bản, tìm khắp nơi không thấy, vậy mà tới đây lại gặp. Giá vừa rẻ, sách vẫn còn lành lặn, con anh lại có thêm nhiều thứ để đọc. Thành thử một cuốn truyện đã đi qua tuổi thơ của đứa trẻ này, nhiều năm sau lại có thể bước vào tuổi thơ của một đứa trẻ khác. Sách cũ là vậy, đời của nó đôi khi dài hơn cả người mua nó lần đầu.

Một lần tôi gặp một người đã rất già, lom khom đi tìm một cuốn sách sử. Ông nói: “Những cuốn sách có thể đã cũ nhưng giá trị trong cuốn sách mà tôi tìm không bao giờ mất đi. Nơi đây giúp tôi tìm lại được kí ức của quá khứ.”

Câu nói ấy khiến tôi nhìn con phố này khác đi.

Hóa ra giữa những gian nhà chật hẹp, trong mùi giấy cũ ngai ngái và những trang sách đã ố vàng, người ta đâu chỉ cất giữ sách. Ở đó còn có tuổi thơ của người này, một thời đi học của người kia, những câu chuyện từng đọc rồi quên, những tên sách tưởng đã thất lạc khỏi đời mình. Người đến tìm một cuốn sách, nhiều khi cầm nó lên, thứ tìm lại được đôi khi là cả một quãng đời. Nghĩ vậy mới thấy chữ nghĩa cũng có số phận. Một cuốn sách có thể từng nằm trang trọng trên kệ, rồi bị bán đi, thất lạc, qua tay người thu mua đồ cũ, nằm lẫn trong một chồng sách chẳng ai nhớ tên. Nó trôi dạt hết nơi này sang nơi khác, cho đến một ngày gặp đúng người đang đi tìm mình.

Thời gian làm giấy ngả màu, làm bìa sách sờn đi, có thể xóa mất một cái tên khỏi thị trường. Nhưng có những điều nằm bên trong thì thời gian chẳng lấy đi được. Trái lại, càng qua nhiều bàn tay, càng đi qua nhiều năm tháng, chữ nghĩa dường như càng lắng sâu thêm một lớp đời.

Phố sách cũ Trần Nhân Tôn không chỉ là nơi bán những cuốn sách đã qua tay người khác. Nó giống một bến nhỏ cho chữ nghĩa sau bao năm trôi dạt tìm được chỗ neo lại, để chờ một người nào đó bước vào, phủi lớp bụi thời gian và nhận ra thứ mình tưởng đã mất từ lâu.

ĐƯỜNG SÁCH HÔM NAY, VÀ MỘT NỖI BÂNG KHUÂNG

Đường sách Nguyễn Văn Bình, Quận 1. Nguồn ảnh: Đường sách SG

Khác hẳn với cái xô bồ, tự nhiên của phố sách cũ, Đường Sách Nguyễn Văn Bình ở Phường Bến Nghé, Quận 1 lại là một không gian được quy hoạch bài bản, khai trương ngày 9/1/2016 và ngay sau đó lọt vào danh sách mười sự kiện nổi bật của thành phố năm ấy. Con đường dài chừng 144 mét, lòng đường rộng 8 mét, hai hàng me cổ thụ phủ bóng mát quanh năm, nằm cạnh Nhà thờ Đức Bà, tiếp giáp Bưu điện Thành phố, cách Dinh Độc Lập và Thảo Cầm Viên chỉ chừng năm trăm mét, một vị trí không thể đẹp hơn giữa lòng Sài Gòn.

Tên “Nguyễn Văn Bình” cũng mang một tầng lịch sử riêng, đặt theo tên vị Giám mục, nhà trí thức và lãnh đạo Công giáo nổi tiếng, chính thức có từ ngày 7/4/2000. Trước đó con đường từng trải qua nhiều tên gọi khác nhau, thời Pháp thuộc gọi là “Hongkong”, rồi đổi thành “Cardis” từ 24/2/1897, sau 19/10/1955 lại mang tên “Nguyễn Hậu”. Mỗi cái tên như một lớp trầm tích ghi dấu một giai đoạn của thành phố.

Nơi đây quy tụ gần ba mươi gian hàng của khoảng hai mươi đơn vị xuất bản, từ Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố, Văn hóa – Văn nghệ, Trẻ, Kim Đồng, Giáo dục, cho tới các công ty tư nhân như Nhã Nam, Phương Nam, Thái Hà, First News, Đông A, Trường Phát, Alphabooks… Sách bày đủ thể loại, từ chính trị, xã hội, khoa học công nghệ tới văn hóa, văn học, khảo cứu, ngoại văn, tâm lý giáo dục, thiếu nhi. Ngoài ra còn có bốn gian sách quý – sách xưa, hai quán cà phê sách, hai gian hàng lưu niệm, cùng những không gian dành cho nghệ thuật đóng sách, phục chế sách quý, sân chơi thiếu nhi, khu đọc sách tiếng Anh miễn phí, chỗ dừng chân đọc sách hay tổ chức triển lãm, lễ hội.

Mỗi gian hàng được thiết kế theo một phong cách riêng, có kệ sách trưng bày giữa đường, có sách bày trên mô hình xe buýt, khách tha hồ chọn đọc mà không sợ ai làm phiền. Vẫn có những đứa trẻ ngồi lọt thỏm giữa các kệ sách, đọc say sưa, hay những bạn trẻ ngồi cả buổi sáng bên ly cà phê, mải mê với cuốn sách còn thơm mùi giấy mới. Hình ảnh gợi tôi nhớ về chính mình của mấy chục năm trước, ngồi “đọc ké” giữa nhà sách Khai Trí.

Thế nhưng, thú thật, với riêng tôi, Đường Sách cũng chỉ thường thường bậc trung, sách không phong phú, cũng chẳng có gì thật sự đặc sắc để lôi cuốn tôi ở lại lâu. Có lẽ vì nó được dựng lên quá bài bản, quá gọn gàng, thiếu đi cái bụi bặm, cái tình cờ của một chợ sách chạy vỉa hè hay một tiệm sách cũ ba đời như tôi từng ghé. Ngẫm ra, cái làm người ta lưu luyến một không gian sách không hẳn nằm ở quy mô hay vị trí đẹp, mà nằm ở cái hồn tích tụ qua năm tháng. Thứ mà không quy hoạch nào dựng lên trong vài tháng có thể thay thế được.

Từ nhà sách Khai Trí của ông Nguyễn Hùng Trương, tới phố sách cũ Trần Nhân Tôn ba thế hệ, rồi tới Đường Sách hiện đại hôm nay, tôi nhận ra sách ở Sài Gòn chưa bao giờ thật sự mất đi, nó chỉ đổi chỗ, đổi dạng, đổi người giữ. Cái mất chỉ là hình hài cũ, còn cái tình với con chữ thì cứ âm thầm truyền từ tay người này sang tay người khác, như ngọn lửa nhỏ chuyền qua bao nhiêu thế hệ mà vẫn chưa từng tắt.

*****

SÀI GÒN DƯỚI NHỮNG TÁN CÂY TRĂM TUỔI

Sài Gòn xanh trước năm 1975. Nguồn ảnh: internet.

 

Tôi thương Sài Gòn, thương từ cái nắng gắt buổi trưa cho tới cơn mưa rào ập xuống không kịp trở tay, nhưng thương nhất, có lẽ, vẫn là những con đường rợp bóng cây cổ thụ. Bởi chúng làm dịu đi tất cả những gì ồn ào, gay gắt của một đô thị mười mấy triệu dân. Đi giữa Nguyễn Thị Minh Khai, An Dương Vương, Nguyễn Tri Phương, Võ Văn Tần, Ba Tháng Hai, Hùng Vương, Ngô Gia Tự tự nhiên người ta thấy phố xá dường như cũng biết thở, biết nghỉ ngơi dưới từng lớp lá chen nhau. Cây không nói, nhưng cây giữ. Giữ cái mát cho người, giữ luôn cả một phần ký ức mà con người cứ mải miết sống mà quên bẵng đi. Vậy mà, mấy ai buồn hỏi coi những hàng cây có tự bao giờ, ai trồng, vì sao lại trồng đúng chỗ đó. Cây cứ đứng lặng thầm qua bao năm tháng, nhìn con người đi qua đi lại phía dưới, chẳng nói năng hoặc đòi hỏi gì.

NGƯỜI PHÁP VÀ GIẤC MỘNG PHỐ TRONG RỪNG

Chuyện bắt đầu từ hồi người Pháp mới đặt chân vào Sài Gòn, quãng những năm 1863 – 1865. Họ ở xứ ôn đới quen rồi, giờ va phải cái nắng nhiệt đới nóng hực, nên mới nghĩ ra chuyện trồng cây che bóng mát vỉa hè. Ban đầu họ định trồng me, trồng xoài cho có trái ăn luôn thể, nhưng tính tới tính lui thấy không ổn. Trái rụng làm dơ đường, con nít trèo hái lại nguy hiểm, mất cả mỹ quan phố xá. Sau nhiều  phen bàn cãi, Hội đồng quản hạt Nam Kỳ mới chốt lại, chọn cây sao đem trồng dọc các lề đường. Rừng sao trong công viên 30 Tháng 4 bây giờ, nghe đâu bắt đầu mọc lên từ năm 1882.

Những năm 1863 – 1870, phần lớn cây giống được Sở Cầu đường lấy từ vườn ươm ở Vườn Bách Thảo. Tư liệu ghi, riêng năm 1866, vườn này đã chuẩn bị sẵn 25 ngàn cây con để phân về Gò Vấp, Chợ Lớn trồng dọc đường. Xem lại những tấm ảnh đen trắng thời đó chụp lại, người ta mới ngỡ ngàng, giữa trung tâm Sài Gòn, dinh thự, biệt thự, dãy nhà Tây đều nép mình dưới bóng cây, như một “thị trấn trong rừng” thật sự.

Mà nói tới cái tên Sài Gòn, cũng có giả thiết cho rằng nó bắt nguồn từ Prey Nokor, nghĩa là thị trấn trong rừng, sau này tác giả Martine Piat cũng gọi vùng đất này là Brai Nagara, cùng một nghĩa như vậy. Ngẫm cũng phải, vì trước khi thành đô thị, đây vốn là một dải rừng nhiệt đới rậm rạp. Trong Thảo Cầm Viên bây giờ vẫn còn một cây dây gùi, rễ cuộn vòng vèo như còn sót lại từ thuở rừng nguyên sinh, và cây da hơn ba trăm tuổi trên đường Lý Tự Trọng. Một cái cây già nhất Sài Gòn, gốc rễ xoắn vào nhau như một chứng nhân câm lặng của cả một thời lập địa. Người Pháp qua đây mang theo súng ống, sự cai trị, nhưng cũng vô tình để lại cho đất này một tài sản không ngờ, những hàng cây trăm năm tuổi, thứ mà bây giờ có tiền cũng chưa chắc mua được.

Trái: Hàng cây cổ thụ trăm tuổi trên đường Tôn Đức Thắng (đại lộ Cường Để cũ) trước khi bị đốn hạ để xây dựng cầu Ba Son. Author: trungydang, wiki commons. Phải: “Con đường Duy Tân cây dài bóng mát…” trước năm 1975. Nguồn ảnh: Blog Nhạc Xưa

 

XÓM THI SĨ, CON ĐƯỜNG MANG TÊN THƠ

Nói tới cây xanh ở Sài Gòn mà không nhắc tới quận Ba thì thiếu sót lắm. Bởi đây được coi như lá phổi xanh của  thành phố, nơi hàng trăm cây cổ thụ tỏa bóng, làm dịu bớt cái nóng hầm hập của đô thị, giữ lại chút gì bình yên từ thời Pháp thuộc còn sót lại. Đường Phạm Ngọc Thạch có hàng me, hàng sao đen và dầu cổ thụ xòe tán quanh khu Hồ Con Rùa và cổng trường Đại học Kinh tế. Sương Nguyệt Anh có hai hàng cổ thụ gần trăm năm tuổi. Trương Công Định xuyên qua Vườn Tao Đàn, hai hàng dầu cao vút che rợp cả lối người đi bộ. Còn cụm Nguyễn Đình Chiểu, Võ Văn Tần, Nguyễn Thị Minh Khai thì tán lá đan cài vào nhau, giữ nguyên cái vẻ tĩnh lặng, thơ mộng hiếm có giữa lòng phố thị.

Quận 3 còn có cả một cụm đường mang tên các thi sĩ như Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Xuân Hương, Tú Xương, Lê Quý Đôn, Lê Ngô Cát, Bà Huyện Thanh Quan… Người Sài Gòn hay đặt tên đường theo cụm, theo khóm, những con đường có liên hệ với nhau về ý nghĩa lịch sử hay văn hóa sẽ được xếp gần nhau, tạo thành một nét riêng, không lẫn vào đâu được.

Lấy chuyện đường Bà Huyện Thanh Quan làm ví dụ. Thời Pháp, đoạn đường này chỉ ngắn ngủi từ Nguyễn Thị Minh Khai tới Hồ Xuân Hương, mang tên Rue Nouvelle. Năm 1920, Tòa Đốc lý Sài Gòn đổi tên thành Pierre Flandin, kéo dài thêm cho tới vị trí bây giờ. Tới năm 1955 mới chính thức mang tên Bà Huyện Thanh Quan, nữ thi sĩ nổi tiếng với những áng thơ Nôm để đời. Con đường Nguyễn Đình Chiểu kế bên cũng lận đận không kém. Từ Rue de Moï, qua L’Evêché, rồi Richaud, đến năm 1955 lại đổi thành Phan Đình Phùng, và mãi tới tháng 8 năm 1975 mới trở về với cái tên Nguyễn Đình Chiểu như bây giờ. Một con đường mà chao qua chao lại bao nhiêu tên gọi, cũng giống như một  đời người đi qua bao nhiêu biến cố, cuối cùng mới tìm được tên đúng với mình.

DƯỚI NHỮNG TÁN CÂY CỔ THỤ

Buổi sáng đầu tuần, tôi dạo bước trên đường Hồ Xuân Hương. Con phố chưa đầy năm trăm mét, nhưng hai bên rợp kín cổ thụ, có cả những cây da buông rễ dài sát đất, tạo thành mấy tấm rèm xanh tự nhiên lọc bớt nắng sớm. Tôi tình cờ gặp một người quen, một nhà văn đang nhâm nhi ly bạc xỉu dưới tán cây. Anh nói: “Tôi mê cái không khí mát lành ở đây vào sáng sớm, không quá đông đúc, ồn ào. Ngồi uống cà phê dưới tán cây, nhìn dòng người qua lại, tôi thấy lòng mình nhẹ nhàng hơn.” Ngay góc Trương Định – Nguyễn Đình Chiểu có cái quán cà phê kiểu Sài Gòn xưa, bàn ghế gỗ kê dưới bóng cây, nép cạnh chung cư cũ tường bong tróc, cửa sắt ngả màu năm tháng. Cũ kỹ vậy mà lại thấy quen lạ, khách tới toàn người trong xóm hoặc dân tự do tìm chỗ yên tĩnh đọc sách, làm việc.

Trái: Đường Hồ Xuân Hương. Ảnh: Báo Thanh Niên. Phải: Đường Bà Huyện Thanh Quan. Ảnh: Báo Thanh Niên

 

Vòng qua Bà Huyện Thanh Quan, xe cộ giờ cao điểm đông đúc là vậy mà đường vẫn giữ được cái thoáng đãng nhờ bóng cây phủ rợp. Một người già bảy mươi tám tuổi, nhà trong hẻm nhỏ cách đó chưa đầy hai trăm mét, sáng nào cũng ra đây đi bộ. Ông nói, giọng thủng thẳng: “Tôi quen đi con đường này hơn chục năm rồi. Mùa nào cũng vậy, đi dưới tán cây mát mẻ mà lại ít bụi bặm.” Rồi người già trong khu hay rủ nhau sang công viên Tao Đàn tập thể dục. Nghe câu chuyện của ông, tôi chợt nghĩ, có khi cái làm cho người ta gắn bó với một con đường, không phải vì con đường đó dẫn tới đâu, mà vì nó cho người ta một khoảng lặng để đi qua mỗi ngày, không vội, không gấp. Đường Tú Xương, Bà Huyện Thanh Quan còn có những gốc me tây, sọ khỉ cổ thụ hàng chục năm tuổi, rễ sần sùi trồi lên mặt đất như những bắp gân của một lão nông. Cây sọ khỉ già nhất Sài Gòn, tôi nghe nói, nó đứng trong Thảo Cầm Viên đã chừng một trăm năm mươi năm, đường kính gốc bốn năm mét, ôm không xuể. Bóng sọ khỉ còn phủ trong sân trường học như Trưng Vương, Marie Curie, Lê Quý Đôn, để bao kỷ niệm cho học trò Sài Gòn qua bao thế hệ, thứ kỷ niệm mà lớn lên rồi mới thấy quý.

Tôi bỗng nhớ lại bài thơ “Phố có cây đã chết” của Huy Tưởng, lòng bồi hồi nhớ tới những hàng cây bị đốn ngã trốc gốc trên phố xưa, nhớ tiếng chim buổi sáng, tiếng ve buổi chiều, nhớ cả đôi mắt ai đó của một thời đã xa. Sài Gòn ngày cũ, mấy ai không từng có một góc phố gắn với hàng cây, gắn với một kỷ niệm riêng. “Con đường Duy Tân cây dài bóng mát, buổi chiều công viên mây trời xanh ngát, uống ly chanh đường…” Câu hát ấy, tôi tin, ai từng sống ở Sài Gòn xưa cũng thuộc.

Ðường Tự Do, Duy Tân, Nguyễn Du, Tú Xương, Huyền Trân Công Chúa, Hồng Thập Tự, Phan Đình Phùng, Pasteur, Công Lý, Bùi Thị Xuân, Chu Mạnh Trinh… biết bao con đường đã in dấu chân của những đôi tình nhân, những buổi hẹn hò dưới bóng cây, những đêm khuya dạo bộ từ phòng trà ra tới Nhà thờ Đức Bà, từng đôi đi và thì thầm bên nhau. Cây dầu, cây sao, cây me, ba loại cây cho bóng mát lâu năm nhất của Sài Gòn đều là giống chậm lớn, phải vài chục năm mới đủ sức che rợp một con đường, năm bảy chục năm mới thành cổ thụ. Nhìn lại ảnh cũ chụp phố Sài Gòn hơn trăm năm trước, mấy cây dầu, sao, me ở trung tâm còn thấp lè tè, vậy mà bây giờ đã vươn cao qua nóc  những dãy nhà năm sáu tầng. Trồng một cây, đợi một đời người, mới có được bóng mát cho đời sau.

Mùa mưa tới, hoa dầu rụng, những cánh hoa xoay tít trong gió, bay là đà rồi đáp xuống một góc tường, một bãi cỏ nào đó, nằm chờ tới mùa mưa năm sau mới nảy mầm. Người nói đó là cách cây phát tán hạt giống, tôi lại thấy nó giống như một lời hẹn thầm lặng của cây với đất, Nó cứ thong thả đợi đúng mùa mới sinh sôi. Mà thời đó, cứ đi từ ga Sài Gòn ra Nguyễn Thông, gặp ngay đôi cây dầu thân thẳng tắp, tán lá tít trên cao in vào nền trời xanh ngắt, là biết mình đã về tới trung tâm. Ði từ bến xe miền Tây hay miền Đông cũng vậy, thấy hàng sao dầu sừng sững là biết đã lọt vào lòng Sài Gòn.

CHỈ SỐ BUỒN CỦA MỘT ĐÔ THỊ TỪNG XANH

Nhưng thương bao nhiêu thì cũng phải nhìn thẳng vào sự thật, Sài Gòn đang thiếu cây xanh trầm trọng. Những tuyến đường như Cách Mạng Tháng Tám, Trường Chinh, Cộng Hòa gần như trơ trọi, chẳng còn bóng cây nào đáng kể. Thành phố hiện chỉ có chừng một trăm mười ngàn cây xanh đô thị, phục vụ cho hơn mười triệu dân, tính ra chưa tới nửa mét vuông cây xanh mỗi đầu người, trong khi tiêu chuẩn các chuyên gia đưa ra phải từ mười hai đến mười lăm mét vuông. Một bảng so sánh năm 2018 của Asian City Green Index còn cho thấy rõ hơn nỗi buồn này. Hồng Kông dẫn đầu với hơn một trăm mét vuông cây xanh trên đầu người, Hà Nội hơn mười một mét vuông, còn Sài Gòn chỉ vỏn vẹn hai mét vuông. Sài Gòn đứng cuối bảng. Quy hoạch tới năm 2025 đặt mục tiêu sáu phẩy ba mét vuông mỗi người, nhưng nhìn thực tế, đó vẫn là con số xa vời.

Người nhập cư mỗi năm một đông, cây lớn mỗi năm một ít đi, phần vì mưa bão sâu bệnh, phần vì phải nhường chỗ cho công trình xây dựng. Tôi ngồi tính, một cái cây dầu phải năm bảy chục năm mới đủ sức tỏa bóng, còn một cao ốc vài chục tầng thì vài năm là xong. Cái nghịch lý ấy, nghĩ kỹ mới thấy đau. Người ta đang đánh đổi thứ mất cả trăm năm mới có, để lấy thứ chỉ cần vài năm là dựng lên được.

CÂY NGÃ, LÒNG NGƯỜI ỨA NƯỚC MẮT

Rồi cái ngày ấy cũng tới. Mạng xã hội lẫn báo chí rộ lên chuyện hàng chục cây trăm tuổi bị đốn hạ, nhường chỗ cho công trình nhà ga metro giữa lòng thành phố. Trong ba ngày, năm mươi bảy cây cổ thụ trước Nhà hát Thành phố, trên đường Lê Lợi, ngã xuống không thương tiếc, trong đó có ba mươi chín cây dầu, sao đen, bò cạp. Một mảng xanh của trung tâm Sài Gòn biến mất chỉ trong một cái chớp mắt. Người Sài Gòn thở dài với nhau, Sài Gòn giờ không còn xanh, hàng liễu khu trung tâm cũng chẳng còn rủ bóng. Một người bạn nói một câu mà tôi cứ nhớ mãi, “người ta chỉ mất vài năm để xây một tòa nhà cao vài chục tầng, nhưng mất cả trăm năm để trồng nên những cây cổ thụ mang tính biểu tượng của một thành phố này”.

Một nhà khảo cổ trong bài viết của mình, kể lại cảm giác đứng trước con phố bỗng dưng trơ trọi, nghe như tiếng kêu cứu vọng ra từ mỗi nhánh cây gãy, để rồi nhận ra rằng mấy công trình tráng lệ kia, chưa chắc đã đẹp, nhưng một phần ký ức rất đẹp của Sài Gòn thì đã vĩnh viễn ra đi. Bà viết, đại ý, những hàng cây cổ thụ ở Hà Nội hay Sài Gòn không đơn thuần là cây xanh, mà là kỷ niệm, là hồn vía của đô thị, nơi bao người từng sống, đang sống, và tìm tới kiếm sống. Chiều hôm ấy đi ngang đầu đường Lê Lợi, thấy cảnh cây bị cưa ngọn cưa thân vội vã, lạnh lùng, bà kể, mình đã ứa nước mắt.

Người ta đánh đổi cả rừng cây lấy một cái nhà ga hiện đại. Nhưng nhà ga, dù có hiện đại tới đâu, xét cho cùng vẫn chỉ là một cái bến xe, mang theo cái xô bồ khó tránh khỏi, mà cái xô bồ ấy chắc chắn sẽ làm tổn thương đi nét thanh tao, nền nã vốn có từ lâu ở trái tim thành phố này. Cái giá phải trả cho tương lai, e là rất lớn, khó mà cứu chữa. Người ta hứa sẽ tái hiện lại không gian xanh, nhưng nhìn công viên Chi Lăng làm bài học nhãn tiền thì biết, đó là màu xanh của kiểng trang trí, không phải màu xanh của cây, càng không phải là không gian dành cho dân. Người ta từng nói cây bị chặt không quý, nhưng một cái cây sống trăm năm thì đâu còn đơn thuần là gỗ nữa, nó đã thành một phần hồn cốt của phố.

Tôi tự dưng nhớ tới ly bạc xỉu của anh nhà văn dưới tán lá lọc nắng, nhớ bước chân thong thả của một ông già mỗi sớm mai trên đường Bà Huyện Thanh Quan. Cây không biết nói, nhưng nếu cây biết nói, chắc nó cũng chỉ trách nhẹ nhàng, như một người già trách con cháu, tụi bây sống vội quá, quên mất rằng có những thứ, một khi đã mất đi, thì dù tiền bạc hay công nghệ hiện đại tới đâu cũng không mua lại được. Sài Gòn nói cho cùng, đâu chỉ là những tòa nhà cao vút chọc trời, mà còn là bóng mát của một hàng me, một gốc dầu cổ thụ, nơi bao thế hệ đã đi qua, đã yêu nhau, đã lớn lên và đã già đi cùng với nó. Giữ được cây, là giữ được một Sài Gòn còn biết thở.

 

Nguyễn Đông A

Comments

Popular posts from this blog

Bài trăm năm - Trần Yên Hòa

Mẹ đi về phía hoàng hôn - Trần Yên Hòa

Truyện cực ngắn - Mã Lam